Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 24 trong loạt bài giảng Lục Pháp.
ỨNG DỤNG THÁI TUẾ
Trong Lục Pháp, Thái Tuế pháp đã được đề cập trong chương Nhập môn giải bí. Nội dung của nó rất phức tạp, nếu xét theo thời gian dài ngắn, có thể chia thành ba loại: Đại hạn, Tiểu hạn, và Lưu niên. Nếu xét theo ứng dụng thực tế, thì có thể chia thành bốn mục lớn: Tuế phù, Ứng sự, Thôi cát, và Trạch cát. Mỗi phần trong này đều có mối liên hệ mật thiết với Tứ quyết khác, vì vậy để sử dụng linh hoạt Thái
Tuế pháp, cần phải nắm vững cách ứng dụng của Tứ quyết đã đề cập trước đó.
BÍ QUYẾT SỬ DỤNG TIỂU HẠN TRONG THÁI TUẾ PHÁP
Trong phần này, chúng ta sẽ giảng dạy toàn bộ bí quyết về cách sử dụng Tiểu hạn trong Thái Tuế pháp. Phần Đại hạn sẽ được đề cập chi tiết trong chương Thâm tạo tâm ấn, vì phần lớn nội dung của Thiên Ngọc Kinh đều liên quan đến Đại hạn pháp.
Vậy, hãy cùng tìm hiểu xem Tiểu hạn Thái Tuế pháp là gì nhé!
Thực ra, cách sử dụng Tiểu hạn Thái Tuế đã được công khai và nhiều người biết đến, chính là Tử Bạch phi tinh pháp được lưu truyền trong dân gian! Tử Bạch phi tinh pháp này thực chất là một phần chi tiết trong Lục pháp tân truyền, có lẽ do thời gian trôi qua và sự thay đổi của thế sự mà nó đã được lưu truyền ra ngoài.
Tuy nhiên, nguyên lý và cách ứng dụng của Tử Bạch phi tinh pháp trong dân gian đã có sự sai lệch đáng kể so với Tiểu hạn Thái Tuế trong Huyền không tân truyền. Tiểu hạn Thái Tuế trong Huyền không tân truyền đặc biệt liên quan đến hai phần chính trong thực hành phong thủy là Ứng sự và Thôi cát, chứ không chỉ đơn thuần dùng để phân định cát hung của một ngôi nhà như Tử Bạch phi tinh pháp trong dân gian.
Tiểu hạn Thái Tuế trong Huyền không tân truyền được chia thành hai phần chính:
Trị niên phi tinh – chủ về Thôi cát.
- Trạch mệnh phi tinh – chủ về Ứng sự.
Hãy cùng phân tích từng phần một!
Phương pháp Trị niên phi tinh:
Trị niên phi tinh chính là Lưu niên phi tinh của mỗi năm trong Tiểu hạn Thái Tuế. Tương tự như 24 sơn trong địa bàn không gian sẽ tương ứng với 12 địa chi năm trong Lưu niên Thái Tuế (tham khảo chương Nhập môn giải bí), chúng ta có thể suy ra rằng trong 9 cung của địa bàn không gian, cũng sẽ tương ứng với 9 cung của thời gian trong năm. Điều này dựa trên nguyên lý Âm dương tương đối lại tương hợp trong Dịch.
|
|
|
||
|---|---|---|---|---|
|
|
|
||
|
|
|
Tương ứng ở đây có nghĩa là tinh và quái có thể thông nhau, từ đó Lạc Thư cửu tinh sinh ra các ý nghĩa sau, còn được gọi là tinh khí:
Số 1 - Tham Lang tinh: Tương ứng với Khảm quái trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu trắng nên còn được gọi là Nhất Bạch tinh. Tinh khí của nó chủ về văn thư, thăng quan, đào hoa... Đây là sao hiệu quả nhất để thúc đẩy vận thi cử (học thuộc lòng), thăng chức và nhân duyên.
Số 2 - Cự Môn tinh: Tương ứng với Khôn quái trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu đen nên còn được gọi là Nhị Hắc tinh. Tinh khí của nó chủ về bệnh tật, quả phụ, bóng tối... Đây là một hung tinh, nên tránh trong năm lưu niên.
Số 3 - Lộc Tồn tinh: Tương ứng với Chấn quái trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu xanh lục nên còn được gọi
là Tam Bích tinh. Tinh khí của nó chủ về khẩu thiệt, thị phi, kiện tụng, tiểu nhân... Đây cũng là một hung tinh, nên tránh trong năm lưu niên.
Số 4 - Văn Khúc tinh: Tương ứng với Tốn quái trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu xanh lá nên còn được gọi là Tứ Lục tinh. Tinh khí của nó chủ về văn chương, đào hoa... Đây là một trung tính tinh, có thể dùng để thúc đẩy vận thi cử (liên tưởng, sáng tạo), nhưng nên tránh nếu không cần (đặc biệt khi kết hợp với Tam Bích dễ gây bệnh tật, sẽ đề cập sau).
Số 5 - Liêm Trinh tinh: Không tương ứng với quẻ nào trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu vàng nên còn được gọi là Ngũ Hoàng tinh. Đây là đại hung thần trong Lưu niên phi tinh, Tinh khí của nó chủ về tai nạn, phá tài, bệnh nặng, tử vong... Đây là sao cực kỳ hung hiểm, tuyệt đối không được phạm phải.
Số 6 - Vũ Khúc tinh: Tương ứng với Càn quái trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu trắng nên còn được gọi là Lục Bạch tinh. Tinh khí của nó chủ về quan quý, quý nhân... Đây là sao hiệu quả rõ rệt trong việc thúc đẩy sự giúp đỡ của quý nhân (nhưng kết hợp với Thất Xích sẽ có tính phá hoại, sẽ đề cập sau).
Số 7 - Phá Quân tinh: Tương ứng với Đoài quái trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu đỏ nên còn được gọi là Thất Xích tinh. Tinh khí của nó chủ về khẩu thiệt, trộm cắp, kiện tụng, hỏa hoạn... Đây là một hung tinh, nên tránh trong năm lưu niên.
Số 8 - Tả Phù tinh: Tương ứng với Cấn quái trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu trắng nên còn được gọi là Bát Bạch tinh. Tinh khí của nó chủ về chính tài, thiên tài, thi cử, quý nhân...
Đây là sao hiệu quả nhất trong việc thúc đẩy tài lộc, đặc biệt vì hiện tại đang là Vận 8 nên Bát Bạch càng thêm cát lợi (nhưng kết hợp với Tam Bích hoặc Tứ Lục sẽ có tính phá hoại, sẽ đề cập sau).
- Số 9 - Hữu Bật tinh: Tương ứng với Ly quái trong Hậu thiên bát quái, vì ánh sáng của nó có màu tím nên còn được gọi là Cửu Tử tinh. Tinh khí của nó chủ về danh tiếng, uy tín, hỷ sự, hỏa hoạn... Đây là sao hiệu quả nhất trong việc thúc đẩy danh tiếng, hôn nhân (nhưng kết hợp với Thất Xích hoặc Lục Bạch sẽ có tính phá hoại, sẽ đề cập sau).
Phân loại Cửu tinh tinh khí:
Tứ cát tinh: Nhất Bạch (1), Lục Bạch (6), Bát Bạch (8), Cửu Tử (9).
Tứ hung tinh: Nhị Hắc (2), Tam Bích (3), Ngũ Hoàng (5), Thất Xích (7).
Trung tính tinh: Tứ Lục (4).
Cát hung rõ ràng, dùng cát thì cát, dùng hung thì hung, tuyệt đối không được nhầm lẫn với Ai Tinh.
Lưu ý:
Vậy, ngay từ bây giờ chúng ta hãy cùng học cách tính Phi Tinh trị niên cho mỗi năm nhé!
Công thức tính Phi Tinh trị niên:

Ví dụ, nếu năm đó là năm 1955, lấy 1955 chia cho 9 được số dư là
- Từ cung 1 đếm ngược 2 cung sẽ rơi vào cung 9, từ đó có thể biết Phi Tinh trị niên của năm đó là Cửu Tử Tinh.
Nếu năm đó là năm 1987, lấy 1987 chia cho 9 được số dư là 7. Từ cung 1 đếm ngược 7 cung sẽ rơi vào cung 4, từ đó có thể biết Phi Tinh trị niên của năm đó là Tứ Lục Tinh.
Chỉ nêu hai ví dụ, các trường hợp khác có thể suy luận tương tự, hoặc có thể tham khảo biểu đồ ở phần sau để tra cứu.
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
Công thức phân bố Phi Tinh trị niên:
Sau khi đã biết Phi Tinh trị niên của năm đó, tiếp theo chúng ta cần đặt Phi Tinh trị niên vào trung cung, sau đó, do Thiên đạo thuận hành, Phi Tinh trị niên vào trung cung sẽ tuân theo số Lạc Thư để di chuyển thuận chiều, từ đó có thể xác định vị trí của tám sao còn lại
trong các cung. Như vậy, khi áp dụng Phép thôi cát (催吉法), chúng ta mới biết được điểm cần tác động.
Ví dụ, năm nay là năm 2009, lấy 2009 chia cho 9 được số dư là 2. Từ cung 1 đếm ngược 2 cung sẽ rơi vào cung 9, từ đó biết Phi Tinh trị niên của năm đó là Cửu Tử Tinh. Tiếp theo, chúng ta đặt Cửu Tử Tinh vào trung cung, từ đó có thể xác định vị trí của tám sao còn lại như sau:
Nhất Bạch Tinh rơi vào cung Càn (Tây Bắc).
Nhị Hắc Tinh rơi vào cung Đoài (Chính Tây).
Tam Bích Tinh rơi vào cung Cấn (Đông Bắc).
Tứ Lục Tinh rơi vào cung Ly (Chính Nam).
Ngũ Hoàng Tinh rơi vào cung Khảm (Chính Bắc).
Lục Bạch Tinh rơi vào cung Khôn (Tây Nam).
Thất Xích Tinh rơi vào cung Chấn (Chính Đông).
Bát Bạch Tinh rơi vào cung Tốn (Đông Nam).
Từ đó, chúng ta biết rằng:
Muốn thúc đẩy tài lộc thì cần xem cung Tốn (Đông Nam).
Muốn thúc đẩy quý nhân thì cần xem cung Khôn (Tây Nam).
Muốn thúc đẩy vận thi cử thì cần xem cung Càn (Tây Bắc) và cung Ly (Chính Nam).
Cần tránh mọi tác động tại cung Đoài (Chính Tây), cung Cấn (Đông Bắc), và cung Chấn (Chính Đông), đặc biệt là cung Khảm (Chính Bắc) vì Ngũ Hoàng hung tinh đáo vị, cần tránh xa như tránh hổ.
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|