Huyền Không Lục Pháp

Bài 4: Phân luận Lục Pháp: Huyền Không, Kim Long, Ai Tinh, Thành Môn, Thái Tuế

Thầy Vũ Giới – phongthuylienhoa — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Bài 4: Phân luận Lục Pháp: Huyền Không, Kim Long, Ai Tinh, Thành Môn, Thái Tuế

Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 4 trong loạt bài giảng Lục Pháp.

PHÂN LUẬN LỤC PHÁP

Thông qua giảng giải Thanh Nang Tự, độc giả nên đã có nhận thức sơ lược nhưng hoàn chỉnh về toàn bộ Huyền Không Lục Pháp, bây giờ chúng ta lại phân luận từng pháp trong lục pháp, tin rằng như vậy các độc giả sẽ càng nắm bắt được lục pháp.

Trước khi bắt đầu chúng ta nhắc lại một lần, cái gọi là Huyền Không Lục Pháp, chính là chỉ pháp quyết trong Huyền Không Tam Quyết của sự truyền thừa Huyền Không, trong đó bao gồm nhất tâm, tứ quyết, nhất pháp, thế là gọi chung là lục pháp.

Nhất tâm: Huyền Không Tâm Ấn

Tâm của lục pháp chính là Huyền Không Tâm Ấn, chính là một loạt tâm pháp suy diễn lý khí của sự truyền thừa Huyền Không, cho nên còn gọi là lý khí tâm ấn, trong đó bao gồm nguyên lý định vị, nguyên tắc suy diễn và phương thức ứng dụng của Hà Đồ, Lạc Thư, Tiên Hậu Thiên Bát Quái, Huyền Không Đại Quái, là bí mật trong bí mật của sự truyền thừa không truyền ra ngoài của một mạch Huyền Không, sách này đã là thiên giải bí nhập môn của môn phái này, thì sẽ chú trọng trong phạm vi nhập môn, về tâm ấn chúng ta tạm thời không nói nhiều, một số phần đã được tường thuật chi tiết trong giải tích Thanh

Nang Tự, phần còn lại đợi chúng ta giải tích Thiên Ngọc Kinh rồi lại tường đàm.

Thực ra trong tâm pháp Huyền Không Tâm Ấn, thực ra lại chia thành hai phần thể quyết và dụng quyết, trong đó phần thể quyết, vì môn luật chỉ có thể khẩu thụ tâm truyền, nhưng phần dụng quyết, thực ra tiên triết đã công khai hơn một nửa, tức là bốn câu chân ngôn được truyền trong đời Hà Đồ biện âm dương chi giao cấu, Lạc Thư tra giáp vận chi hưng suy, Tiên Thiên tra khí dụng ư huyệt trung, Hậu Thiên khán hình dụng ư tượng ngoại, bốn câu chân ngôn này tuy chỉ được một nửa trong tâm pháp, nhưng thực sự đã là pháp chìa khóa của lý khí Huyền Không, biết được lý khí Huyền Không này thì được hơn một nửa rồi!

Các độc giả hiện tại chưa hiểu cũng không sao, dạy học kham dư Huyền Không vốn có hệ thống tự thành của nó, lúc mới học thì phải như tung lưới mà bác lãm, cho nên lục pháp phải chia thành lục pháp mà luận, mà lúc học cuối cùng thì phải như thu hoạch mà chuyên nhất, thế là lục pháp chỉ là một pháp mà thôi, đến bước này thì Huyền Không tự nhiên tâm ấn, tam quyết tự nhiên có thể dung hội quán thông mà có thể nhất dĩ quán chi!

2 7

3 8

5 0

4 9

1 6

2 7

3 8

5 0

4 9

1 6

4

9

2

3

5

7

8

1

6

4

9

2

3

5

7

8

1

6

Hà đồ sốLạc thư số

Hình 62

ĐOÀI

CÀN

TỐN

LY

KHẢM

CHẤN

KHÔN

CẤN

ĐOÀI

CÀN

TỐN

LY

KHẢM

CHẤN

KHÔN

CẤN

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

Tiên thiên bát quáiHậu thiên bát quái

Hình 63

Tứ Quyết Chi Nhất: Thư Hùng Quyết

Cái gọi là thư chỉ chính là núi non trong tự nhiên hoặc là nhà cửa nhân tạo, vì tính chất hằng tĩnh của nó, cho nên chủ âm chất, trong kham dư học nói chung lấy nó đại diện cho nữ giới. Mà cái gọi là hùng chỉ chính là khí lưu thủy thế trong tự nhiên hoặc là cửa sổ đường sá nhân tạo, vì tính chất hằng động của nó, cho nên chủ dương khí, trong kham dư học nói chung lấy nó đại diện cho nam giới.

Loại Hình Đỉnh Nhọn Tròn:

Hình 64: Sơn Toản - Núi nhọn, biểu tượng như kim tự tháp
Hình 64: Sơn Toản - Núi nhọn, biểu tượng như kim tự tháp
Hình 65: Lâu Vũ - Tòa nhà, biểu tượng kiến trúc dạng khối vuông
Hình 65: Lâu Vũ - Tòa nhà, biểu tượng kiến trúc dạng khối vuông

Loại Hình Hùng Mạnh Tròn:

Hình 66: Thủy Lưu - Dòng nước, biểu tượng của dòng chảy tự nhiên, sông suối
Hình 66: Thủy Lưu - Dòng nước, biểu tượng của dòng chảy tự nhiên, sông suối
Hình 67: Đạo Lộ - Đường đi, biểu tượng của đường phố, ngã tư, giao lộ
Hình 67: Đạo Lộ - Đường đi, biểu tượng của đường phố, ngã tư, giao lộ
Hình 68: Môn - Cửa, biểu tượng của lối vào hoặc cổng chính
Hình 68: Môn - Cửa, biểu tượng của lối vào hoặc cổng chính

Mà Thư và Hùng hai từ hợp lại là chỉ ý nam nữ giao hợp, bởi vì hai bên nam nữ phải có thể giao hợp trước, thì mới có thể truyền nối đời sau mà sinh sôi không ngừng. Cho nên về địa lý cũng cần một Thư một Hùng có thể giao hợp trước, thì mới có thể thừa hưởng sinh khí mà phúc ấm con cháu, đây cũng chính là Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp tự nhiên (Người theo đất, đất theo trời, trời theo tự nhiên) mà suy ngược lại. Mà Thư và Hùng của một cuộc đất có thể giao hợp hay không; thì cần phải dựa vào Cục Thế do Thư Hùng của cuộc đất đó hình thành để phán đoán, loại phương pháp dùng để phán đoán Cục Thế hình thành của một cuộc đất rốt cuộc là gì, lại có tên là Định Cục Pháp, cũng chính là Thư Hùng Quyết vậy!

Huyền Không tâm pháp có nói Nhân địa định cục, nhân cục hạ quái, nhân quái khởi tinh (Do đất định cục, do cục hạ quái, do quái khởi tinh), cho nên biết Định Cục thực sự là cửa ải đầu tiên của phép Kham Dư Huyền Không, cũng là cửa ải quan trọng nhất. Một khi Định Cục định sai, thì hạ quái lập tuyến ắt sai, như thế thì sơn thủy khắp thành đều không liên quan gì đến ta! Cho nên pháp Khán Thư Hùng (xem

Thư Hùng) này, thực sự là tâm huyết cả đời của Dương Công, vì thế mà khác với tất cả các sách khác trên đời!

Thư Hùng Định Cục Pháp của tâm truyền Huyền Không phối hợp với Huyền Không Nhãn Quyết, thì đem cục thế do hình thế đất đai hình thành chia làm bốn loại lớn, phân biệt là Tụ Khí Cục, Chuyên Khí Cục, Động Khí Cục, và Nạp Khí Cục chính là Tứ Cục Pháp. Trong đó, mỗi loại cục pháp đều có phương pháp tạo tác tương ứng riêng, đều phải tạo tác theo đúng phép, thì mới có thể thu nạp sinh vượng khí khác nhau của từng loại!

Trong bốn đại cục, lấy Tụ Khí Cục làm trọng hàng đầu, thứ đến lấy Chuyên Khí Cục là mạnh, lại thứ nữa lấy Động Khí Cục là hơn, cuối cùng mới luận đến Nạp Khí Cục. Duy chỉ có đại địa vốn hiếm, cục thế Thư Hùng trên đời lại phần nhiều lấy Động Khí Cục và Nạp Khí Cục làm chủ, cho nên trọng điểm giảng dạy lần này của chúng ta sẽ bắt đầu từ hai cục này trước, hai cục khác chúng ta sau này sẽ lần lượt bàn đến.

Chỉ là ở đây có một khái niệm cần phải xây dựng cho tốt trước, đó là nếu một cuộc đất đã hình thành Động Khí Cục trước, thì không cần phải luận xem nó có hình thành Nạp Khí Cục hay không. Tương tự như vậy, nếu một cuộc đất đã hình thành Chuyên Khí Cục trước, thì cũng không cần phải luận xem nó có hình thành động khí cục hay không. Đương nhiên, nếu một cuộc đất đã hình thành Tụ Khí Cục trước, tự nhiên cũng không cần phải luận xem nó có hình thành Chuyên Khí Cục hay không! Cho nên bất kỳ cuộc đất nào cũng chỉ

hình thành một loại Cục mà thôi, vì vậy Định Cục lại càng trở nên rất quan trọng. Một khi Định Cục sai lệch, thì Kim Long, Ai Tinh, Thành Môn, cả bốn thứ đều sẽ mất đi chỗ dựa!

Vậy thế nào là Nạp Khí Cục? Kỳ thực, cái gọi là Nạp Khí Cục, là chỉ khi địa thế của một cuộc đất cực kỳ bằng phẳng, lúc này chúng ta chỉ có thể dựa vào cục thế đặc biệt do núi non hoặc nhà cửa ( gọi là Thư) ở bốn phía tạo thành, thì mới có thể phán đoán được khí mà cuộc đất này thu nạp rốt cuộc là khí của bên nào, một loại phương pháp như vậy, cho nên gọi là Nạp Khí Cục pháp.

Nạp Khí Cục này lại được chia thành bốn loại, phân biệt là Lưỡng Nghi Cục, Tứ Tượng Cục, Bát Quái Cục và Đại Quái (Tam Hợp) Cục. Mà bốn loại cục pháp này, kỳ thực chính là bốn ví dụ bằng hình vẽ mà chúng ta đã đưa ra ở tiết trước, yêu cầu mọi người suy nghĩ trước, bây giờ chúng ta hãy cùng nhau thảo luận một chút!

Ví dụ 1: Cục Đại Quái (Tam Hợp Cục). Một ngôi nhà tọa Tý (Bắc) hướng về Ngọ (Nam). Nếu như La Thành (vùng bảo vệ xung quanh) được bao bọc chặt chẽ, thì khí sẽ tập trung ở phương Khôn (Tây Nam). Do đó, cục này chỉ thu nạp khí của Khôn quái (Tây Nam).

Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa
Hình 69
Hình 69

Ví dụ 2: chính là ví dụ về Bát Quái Cục. Ngôi nhà tọa Tý (Bắc) hướng về Ngọ (Nam). Nếu hai bên La Thành (vùng bảo vệ xung quanh) bao bọc và chỉ mở ra một mặt ở Tiền Đường (phía trước), thì khí sẽ đến từ phương Ly (Nam). Vì vậy, cục này chỉ thu nạp khí của Ly quái (Nam).

Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa
Hình 70
Hình 70

Ví dụ 3: chính là ví dụ về Tứ Tượng Cục. Một ngôi nhà tọa Tý (Bắc) hướng về Ngọ (Nam). Nếu như La Thành (vùng bảo vệ xung quanh) chỉ có Sa phải (bên phải) độc lập che chắn, thì khí sẽ đến từ phương Tốn (Đông Nam). Vì vậy, cục này chỉ thu nạp khí của Tốn quái (Đông Nam).

Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa
Hình 71
Hình 71

Ví dụ 4: chính là ví dụ về Cục Lưỡng Nghi. Một ngôi nhà tọa Tý (Bắc) hướng về Ngọ (Nam). Nếu như La Thành (vùng bảo vệ xung quanh) hoàn toàn không có sự bao bọc, Tiền Đường (phía trước) hoàn toàn trống trải, khí loạn và hỗn tạp, vì vậy khí sẽ bị phân tán và không thể thu nạp được!

Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa

Không

Không

Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa

Không

Không

Hình 72

Quan sát kỹ bốn hình ví dụ này, có thể thấy tuy tọa hướng của chúng giống nhau, nhưng khí mà chúng nạp vào lại cực kỳ khác nhau! Phương vị nạp khí này cũng chính là phương vị mà Khí Khẩu (tức Hùng) của Nạp Khí Cục ở đó, cần phải bài đến Linh Thần của đương vận thì mới được. Mà bởi vì vị trí của Khí Khẩu khác nhau, cho nên bốn nhà này tuy đều vào ở vào vận 8, nhưng chỉ có nhà ở hình ví dụ 2 là có thể do Kim Long có động mà phát vượng, ba nhà còn lại ở vận 8 đều dễ suy bại! Ẩn ý trong đó, người không được tâm truyền

làm sao có thể biết? Mặc cho bạn thông minh tột đỉnh cũng khó mà ngộ ra được một hai phần trong đó!

Tuy nhiên, xin nhất định phải nhớ, địa thế nơi có nạp khí cục này, nhất định phải cực kỳ bằng phẳng thì mới được. Một khi địa thế cao thấp không bằng, thì Khí Lưu liền Động, lúc này cần phải đổi sang dùng động khí cục mà luận!

Cái gọi là Động Khí, là chỉ dòng nước hoặc đường sá Hùng trong hình cục, bởi vì sự thay đổi cao thấp của địa thế, mà hình thành trạng thái động rất rõ ràng. Dựa theo nguyên tắc Cát hung hối lận tại hồ động của Dịch, lúc này chúng ta phải đổi sang lấy Động Khí này làm chủ, để làm căn cứ suy xét cho việc định cục của một cuộc đất. Loại phương pháp lấy Động Khí để nhận cục này, thì gọi là động khí cục pháp.

Động Khí Cục đã lấy động khí làm chủ, thì không giống như cục pháp của nạp khí cục phức tạp như vậy, chỉ cần khí Động rồi, thì lấy đó mà định cục.

Hình 73
Hình 73
Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa

Như hình ví dụ, cùng là nhà Tý Sơn Ngọ Hướng, duy chỉ có địa thế tổng thể rõ ràng là bên phải cao mà bên trái thấp, như thế khí lưu từ phải mà đổ sang trái, mà quấn ở giao lộ chữ thập phương Tốn, cho nên cục này chỉ nạp riêng khí Tốn.

Hình 74

Như trong hình vẽ, một ngôi nhà tọa Tý (Bắc) hướng Ngọ (Nam). Tuy nhiên, lần này địa thế tổng thể rõ ràng là phía bên trái cao hơn và phía bên phải thấp hơn.

Do đó, dòng khí sẽ đảo ngược, chảy từ bên trái qua bên phải, rồi xoắn lại tại ngã tư phía Khôn (Tây Nam).

Vì vậy, cục này lại chỉ thu nạp được khí của Khôn.

Hình 75
Hình 75

Như trong hình vẽ, một ngôi nhà tọa Tý (Bắc) hướng Ngọ (Nam). Tổng thể địa thế lần này là bên phải cao hơn và bên trái thấp hơn. Do đó, khí sẽ chảy từ bên phải qua bên trái.

Tuy nhiên, nếu phương Khôn (Tây Nam) không có ngã tư đường để thu khí, thì dòng khí sẽ hoàn toàn thoát ra từ thủy khẩu ở phương Đoài (Tây). Vì vậy, cục này sẽ chỉ thu nạp khí của Đoài.

Hình 76
Hình 76

Như trong hình vẽ, một ngôi nhà tọa Tý (Bắc) hướng Ngọ (Nam). Lần này, tổng thể địa thế có ba phía đều cao, chỉ riêng phía sau bên phải là thấp và trũng xuống.

Vì vậy, khí sẽ hoàn toàn thoát ra từ phía sau bên phải, và xoắn tụ lại tại thủy khẩu ở phương Càn (Tây Bắc). Do đó, cục này sẽ chỉ thu nạp khí của Càn.

Động khí khẩu chính là Khí khẩu của động khí cục, và cũng cần được sắp đặt tại phương linh thần thì mới được coi là tốt.

Thông qua việc xem xét một số cục thế, có thể thấy rằng việc nhận biết chính xác về Thư Hùng để nhận diện cục thế là không dễ dàng. Chỉ cần một sai lầm nhỏ trong việc nhận định, toàn bộ bố cục sẽ bị hỏng.

Đây chính là đại pháp chân truyền của Xem Thư Hùng. Những trường hợp được gọi là Lục Pháp mà không chính xác thường là do nhận diện cục thế không rõ ràng.

Những sai lầm phổ biến là:

Dùng tọa hướng để luận xem đâu là chính khí, đâu là tà khí.

Dùng cửa sổ, cửa ra vào để luận xem đâu là chính khí, đâu là tà

khí.

Dùng đường đi để luận xem đâu là chính khí, đâu là tà khí. Nguyên nhân của những sai lầm này là vì mọi người tự cho rằng Kim Long đã được kích hoạt, nhưng lại không thấy được phúc khí, mà ngược lại còn rước họa vào. Nguyên nhân chính là do ngay từ đầu đã nhận định sai về Khán Thư Hùng.

Hình thể Thư Hùng chính là nền tảng của lý thuyết Huyền Không. Hiện nay, nhiều người theo phái Huyền Không quá chú trọng vào phương pháp luận lý khí mà bỏ qua nguyên lý Nếu hình thể không thật, thì lý khí cũng vô dụng!. Chỉ dựa vào phương pháp luận lý khí mà không xem xét đến sự thay đổi của hình thể sẽ dẫn đến sự sai lệch.

Hệ thống phong thủy Huyền Không bắt đầu từ việc Định Cục và kết thúc bằng Lập Hướng Thành Môn. Mỗi loại cục thế đều có những phương pháp chế tác khác nhau để thu nạp khí sinh và tránh khí sát.

Hôm nay, tôi chỉ mới hé mở một cánh cửa nhỏ, dù chỉ là đề cập nhẹ nhàng, nhưng tôi tin rằng từ đây tầm mắt của các bạn sẽ được mở rộng. Và khi tiếp tục nâng cao trong việc học Huyền Không Nhãn Quyết, các bạn sẽ dễ dàng nắm bắt được hơn.

Tứ quyết chi nhị: Kim Long quyết

Thế nào là Kim Long? Ở phần phân tích Thanh Nang Tự trước đây đã nói rõ, Kim Long chính là tên gọi khác của Linh Thần, mà Linh Thần là do Nguyên Vận suy ra, cho nên muốn biết được Kim Long Quyết thì trước tiên phải biết Nguyên Vận.

Ở đoạn trước cũng đã nói, Nguyên Vận của Huyền Không thực ra có hai loại, một là Địa Vận của Tam Nguyên Cửu Vận, hai là Thiên Vận của Nhị Nguyên Bát Vận. Thiên Vận thống lĩnh Thiên, là phép dùng của lưu chuyển vận hành của Thái Tuế, còn Địa Vận thống lĩnh Địa, mới là căn cứ để phán đoán suy vượng của Thư Hùng sơn thủy,

vì thế Kim Long Quyết lấy Địa Vận làm gốc, để suy ra vị trí của Linh Thần ở tám phương.

Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa

Dựa theo Tiên Thiên là thể mà Lạc Thư tra giáp vận chi hưng suy, thế là muốn suy cầu Địa Vận, nên lấy Tiên Thiên Bát Quái phối hợp với Lạc Thư làm chủ.

Hình 77: Tiên thiên phối lạc thư số

Đem hai đồ hình phối hợp lại, có thể biết Địa Vận vận 1 là do Khôn Quái chủ vận, Địa Vận vận 2 là do Tốn Quái chủ vận, Địa Vận vận 3 là do Ly Quái chủ vận, Địa Vận vận 4 là do Đoài Quái chủ vận. Địa Vận vận 5 vì trung cung không có quái cho nên không luận. Địa Vận vận 6 là do Cấn Quái chủ vận, Địa Vận vận 7 là do Khảm Quái chủ vận, Địa Vận vận 8 là do Chấn Quái chủ vận, Địa Vận vận 9 là do Càn Quái chủ vận. Như vậy, trong Tiên Thiên Bát Quái, mỗi quái sẽ chủ quản một vận, vận vận thay nhau, tuần hoàn lặp lại. Trong đó, bốn quái âm Khôn, Tốn, Ly, Đoài chủ bốn vận 1, 2, 3, 4 là Thượng Nguyên Nhất Phiến, cũng là Âm thống nhất phiến. Còn bốn quái dương Cấn, Khảm, Chấn, Càn chủ sáu vận 6, 7, 8, 9 là Hạ Nguyên Nhất Phiến, cũng là Dương thống nhất phiến, cho nên gộp lại gọi là Nhị Nguyên

Bát Vận. Chỗ này nhấn mạnh luận về Nhị Nguyên, cũng là nguyên tắc Âm Dương phân dụng vậy.

Người xưa đặt ra Giáp Tý để ghi việc năm, một Giáp Tý là 60 năm, vì luận Tam sinh vạn vật, hợp ba Giáp Tý cộng 180 năm là một đại dụng, cũng gọi là Nhất Đại Nguyên. Mà Tiên Thiên Bát Quái, Hào Số (số hào) của nó phối hợp với nguyên tắc Dương cửu Âm lục bát (Dương 9, Âm 68), vừa đúng cũng là số 180, cho nên lấy một số để ứng với một năm, thì có thể được giới hạn năm bắt đầu và kết thúc mà Nhị Nguyên Bát Vận mỗi vận nắm giữ.

Vận 1 quái Khôn, ba hào đều âm, dương cửu âm lục, ba sáu mười tám, thế là một vận nắm mười tám năm, từ năm Giáp Tý đến năm Tân Tỵ, năm gần đây là từ 1864 đến 1881.

Vận 2 quái Tốn, hai dương một âm, dương cửu âm lục, hai chín mười tám, cộng thêm sáu là hai mươi bốn, thế là hai vận nắm hai mươi bốn năm, từ năm Nhâm Ngọ đến năm Ất Tỵ, năm gần đây là từ 1882 đến 1905.

Vận 3 quái Ly, hai dương một âm, dương cửu âm lục, hai chín mười tám, cộng thêm sáu là hai mươi bốn, thế là Tam Vận nắm hai mươi bốn năm, từ năm Bính Ngọ đến năm Kỷ Tỵ, năm gần đây là từ 1906 đến 1929.

Vận 4 quái Đoài, cũng là hai dương một âm, dương cửu âm lục, hai chín mười tám, cộng thêm sáu là hai mươi bốn, thế là bốn vận cũng nắm hai mươi bốn năm, từ năm Canh Ngọ đến năm Quý Tỵ, năm gần đây là từ 1930 đến 1953.

Vận 6 quái Cấn, hai âm một dương, dương cửu âm lục, hai sáu mười hai, cộng thêm chín là hai mươi mốt, thế là sáu vận nắm hai mươi mốt năm, từ năm Giáp Ngọ đến năm Giáp Dần, năm gần đây là từ 1954 đến 1974.

Vận 7 quái Khảm, hai âm một dương, dương cửu âm lục, hai sáu mười hai, cộng thêm chín là hai mươi mốt, thế là bảy vận nắm hai mươi mốt năm, từ năm Ất Mão đến năm Ất Hợi, năm gần đây là từ 1975 đến 1995.

Vận 8 quái Chấn, hai âm một dương, dương cửu âm lục, hai sáu mười hai, cộng thêm chín là hai mươi mốt, thế là Bát Vận nắm hai mươi mốt năm, từ năm Bính Tý đến năm Bính Thân, năm gần đây là từ 1996 đến 2016.

Vận 9 quái Càn, ba hào đều dương, dương cửu âm lục, ba chín hai mươi bảy, thế là chín vận nắm hai mươi bảy năm, từ năm Đinh Dậu đến năm Quý Hợi, năm gần đây là từ 2017 đến 2043.

Sau khi biết niên hạn bắt đầu và kết thúc của các vận Địa Vận, có thể dựa vào Nguyên Vận để suy cầu vị trí Kim Long linh thần của các vận, rồi phối hợp với phương vị khí khẩu đã phán đoán bằng Thư Hùng định cục ở tiết trước, như vậy có thể biết Kim Long rốt cuộc động hay không động!

Mà pháp dùng Địa Vận để cầu linh thần, đã được tường thuật chi tiết ở phần trước, tức là lấy số Nguyên Vận nhập trung cung, dựa theo sự khác biệt dương thuận âm nghịch mà bài bố, thì Kim Long linh thần sẽ không có chỗ ẩn náu!

9

5

7

8

1

3

4

6

2

Hình 78: Vận 1 Kim Long ở quái Ly hậu thiên

3

7

5

4

2

9

8

6

1

Hình 79: Vận 2 Kim Long ở quái Khôn hậu thiên

2

7

9

1

3

5

6

8

4

Hình 80: Vận 3 Kim Long ở quái Đoài hậu thiên

5

9

7

6

4

2

1

8

3

Hình 81: Vận 4 Kim Long ở quái Tốn hậu thiên

7

2

9

8

6

4

3

1

5

Hình 82: Vận 6 Kim Long ở quái Càn hậu thiên

6

2

4

5

7

9

1

3

8

Hình 83: Vận 7 Kim Long ở quái Chấn hậu thiên

9

4

2

1

8

6

5

3

7

Hình 84: Vận 8 Kim Long ở quái Cấn hậu thiên

8

4

6

7

9

2

3

5

1

Hình 85: Vận 9 Kim Long ở quái Khảm hậu thiên

Sau khi biết được vị trí của các Kim Long trong các vận, dựa theo nguyên tắc Âm Dương phân dụng trong Kinh Dịch, chúng ta có thể vẽ được sơ đồ phân bố Chính - Linh của tám hướng trong từng vận.

9

5

7

8

1

3

4

6

2

Vận 1 Kim Long ở quái Ly hậu thiên

Vận 1: Linh thần nằm ở quái Càn trong Tiên Thiên. Bốn quái dương trong Tiên Thiên là Càn, Chấn, Khảm, Cấn đều thuộc dương, có thể thông khí với nhau. Do đó, bốn quái Càn, Chấn, Khảm, Cấn trong Tiên Thiên đều là phương Linh thần. Vì vậy, bốn phương Ly, Cấn, Đoài, Càn trong Hậu Thiên là phương Linh thần (phương vị sử dụng Hậu Thiên bát quái).

3

7

5

4

2

9

8

6

1

Vận 2 Kim Long ở quái Khôn hậu thiên

Vận 2: Linh thần nằm ở quái Tốn trong Tiên Thiên. Bốn quái âm trong Tiên Thiên là Khôn, Tốn, Ly, Đoài đều thuộc âm, có thể thông khí với nhau. Do đó, bốn quái Khôn, Tốn, Ly, Đoài trong Tiên Thiên đều là phương Linh thần. Vì vậy, bốn phương Khảm, Khôn, Chấn, Tốn trong Hậu Thiên là phương Linh thần (phương vị sử dụng Hậu Thiên bát quái).

2

7

9

1

3

5

6

8

4

Vận 3 Kim Long ở quái Đoài hậu thiên

Vận 3: Linh thần nằm ở quái Khảm trong Tiên Thiên. Bốn quái dương trong Tiên Thiên là Càn, Chấn, Khảm, Cấn đều thuộc dương, có thể thông khí với nhau. Do đó, bốn quái Càn, Chấn, Khảm, Cấn trong Tiên Thiên đều là phương Linh thần. Vì vậy, bốn phương Ly, Cấn, Đoài, Càn trong Hậu Thiên là phương Linh thần (phương vị sử dụng Hậu Thiên bát quái).

5

9

7

6

4

2

1

8

3

Vận 4 Kim Long ở quái Tốn hậu thiên

Vận 4: Linh thần nằm ở quái Đoài trong Tiên Thiên. Bốn quái âm trong Tiên Thiên là Khôn, Tốn, Ly, Đoài đều thuộc âm, có thể thông khí với nhau. Do đó, bốn quái Khôn, Tốn, Ly, Đoài trong Tiên Thiên đều là phương Linh thần. Vì vậy, bốn phương Khảm, Khôn, Chấn, Tốn trong Hậu Thiên là phương Linh thần (phương vị sử dụng Hậu Thiên bát quái).

7

2

9

8

6

4

3

1

5

Vận 6 Kim Long ở quái Càn hậu thiên

Vận 6: Linh thần nằm ở quái Cấn trong Tiên Thiên. Bốn quái dương trong Tiên Thiên là Càn, Chấn, Khảm, Cấn đều thuộc dương, có thể thông khí với nhau. Do đó, bốn quái Càn, Chấn, Khảm, Cấn trong Tiên Thiên đều là phương Linh thần. Vì vậy, bốn phương Ly, Cấn, Đoài, Càn trong Hậu Thiên là phương Linh thần (phương vị sử dụng Hậu Thiên bát quái).

6

2

4

5

7

9

1

3

8

Vận 7 Kim Long ở quái Chấn hậu thiên

Vận 7: Linh thần nằm ở quái Ly trong Tiên Thiên. Bốn quái âm trong Tiên Thiên là Khôn, Tốn, Ly, Đoài đều thuộc âm, có thể thông khí với nhau. Do đó, bốn quái Khôn, Tốn, Ly, Đoài trong Tiên Thiên đều là phương Linh thần. Vì vậy, bốn phương Khảm, Khôn, Chấn, Tốn trong Hậu Thiên là phương Linh thần (phương vị sử dụng Hậu Thiên bát quái).

9

4

2

1

8

6

5

3

7

Vận 8 Kim Long ở quái Cấn hậu thiên

Vận 8: Linh thần nằm ở quái Chấn trong Tiên Thiên. Bốn quái dương trong Tiên Thiên là Càn, Chấn, Khảm, Cấn đều thuộc dương, có thể thông khí với nhau. Do đó, bốn quái Càn, Chấn, Khảm, Cấn trong Tiên Thiên đều là phương Linh thần. Vì vậy, bốn phương Ly, Cấn, Đoài, Càn trong Hậu Thiên là phương Linh thần (phương vị sử dụng Hậu Thiên bát quái).

8

4

6

7

9

2

3

5

1

Vận 9 Kim Long ở quái Khảm hậu thiên

Vận 9: Linh thần nằm ở quái Khôn trong Tiên Thiên. Bốn quái âm trong Tiên Thiên là Khôn, Tốn, Ly, Đoài đều thuộc âm, có thể thông khí với nhau. Do đó, bốn quái Khôn, Tốn, Ly, Đoài trong Tiên Thiên đều là phương Linh thần. Vì vậy, bốn phương Khảm, Khôn, Chấn, Tốn trong Hậu Thiên là phương Linh thần (phương vị sử dụng Hậu Thiên bát quái).

Do trên có thể biết, Linh Thần của các vận 1, 3, 6, 8 đều ở bốn phương Ly, Cấn, Đoài, Càn của Hậu Thiên, Chính Thần của chúng

(đối diện với Linh Thần) thì ở bốn phương Khảm, Khôn, Chấn, Tốn của Hậu Thiên. Mà Linh Thần của các vận 2, 4, 7, 9 đều ở bốn phương Khảm, Khôn, Chấn, Tốn của Hậu Thiên, Chính Thần của chúng thì ở bốn phương Ly, Cấn, Đoài, Càn của Hậu Thiên. Đây chính là cái lý gọi là Lưỡng Phiến (hai mảnh).

Dịch từ Lưỡng Nghi mà hóa thành Tứ Tượng, Bát Quái, Đại Quái... cũng tất phải từ Đại Quái, Bát Quái, Tứ Tượng mà nghịch chuyển quay về gốc ở khởi đầu Lưỡng Nghi. Vì vậy Âm Dương Lưỡng Phiến thực sự là pháp tắc tối giản của Huyền Không. Nắm vững được cái lý của Lưỡng Phiến, thì phép bình an của Kham Dư Huyền Không đã nắm được quá nửa rồi!

Mà cái lý của Lưỡng Phiến có bốn:

Thượng Nguyên 1 2 3 4 nhất phiến, Hạ Nguyên 6 7 8 9 nhất phiến: Cái này bắt nguồn từ hai phiến phân dụng của số sinh thành trong Hà Đồ.

1 3 6 8 nhất phiến, 2 4 7 9 nhất phiến: Chính là hai phiến Linh Chính của Nguyên Vận đã nói ở trước.

Càn Chấn Khảm Cấn nhất phiến, Khôn Tốn Ly Đoài nhất phiến: Chính là hai phiến Âm Dương phân dụng của Tiên Thiên.

Khảm Khôn Chấn Tốn nhất phiến, Ly Cấn Đoài Càn nhất phiến: Là hai phiến Linh Chính của Tiên Thiên Âm Dương phân dụng chuyển sang Phương Vị Hậu Thiên, mà nếu lại chuyển sang số của Lạc Thư mà luận, thì lại quay về hai phiến sinh thành 1 2 3 4 nhất phiến, 6 7

8 9 nhất phiến rồi!

4

TỐN

9

LY

2

KHÔN

3

CHẤN

5

7

ĐOÀI

8

CẤN

1

KHẢM

6

CÀN

Hình 86: Thượng nguyên nhất phiến, Hạ nguyên nhất phiến

Cho nên dựa theo suy diễn của chúng ta vừa rồi, hiện nay đang là Hạ Nguyên Bát Vận, là do Chấn Quái chủ vận cộng 21 năm, bắt đầu từ năm Bính Tý 1996, kết thúc đến năm Bính Thân 2016. Trong khoảng thời gian này, Linh Thần đều ở bốn phương Ly, Cấn, Đoài, Càn của Hậu Thiên, mà Chính Thần đều ở bốn phương Khảm, Khôn, Chấn, Tốn của Hậu Thiên. Cho nên nếu Khí Khẩu của Thư Hùng Định Cục mà bài đến bốn phương đại Linh Thần Ly, Cấn, Đoài, Càn của Hậu Thiên, đó chính là cái gọi là Bát Thủy Nhập Linh Đường, là đất vượng thê tài (vợ và tiền tài). Mà nếu Khí Khẩu của Thư Hùng Định Cục, ngược lại bài đến bốn phương đại Chính Thần Khảm, Khôn, Chấn, Tốn của Hậu Thiên, thì đó chính là cái gọi là Sơn Thượng Long Thần Hạ Thủy, trái lại là đất bại thê tài. Lại nữa, nếu Khí Khẩu của Thư Hùng Định Cục, cũng bài đến bốn phương Ly, Cấn, Đoài, Càn của Hậu Thiên, mà lại là sử dụng vào lúc Thất Vận, thì cũng là cái tệ của Sơn Thượng Long Thần Hạ Thủy, cũng là đất bại thê tài vậy! Cho nên biết chỉ sai một đường tơ, thì tốt xấu đã khác nhau rồi!

Vì vậy Huyền Không đặc biệt coi trọng Hình Thế Thư Hùng, bởi vì Khí Khẩu một khi sai, thì tốt xấu không có căn cứ!

Vì vậy Huyền Không đặc biệt coi trọng Nguyên Vận Kim Long, bởi vì Linh Thần một khi sai, thì tốt xấu khác xa vậy!

Nắm vững được hai quyết Thư Hùng và Kim Long, thì đối với Kham Dư Huyền Không đã dư dả rồi. Ai Tinh Quyết phía sau là dùng để phán đoán lớn nhỏ của lực lượng cát hung, chứ không làm thay đổi phán đoán của Thư Hùng và Kim Long. Còn Thành Môn Quyết là dùng để lập hướng thu khí, nó có thể khiến cho cái tốt càng tốt hơn mà cái xấu giảm bớt đi, nghiêm khắc mà nói thì chỉ là một phương pháp bổ cứu, đương nhiên cũng không làm thay đổi phán đoán của Thư Hùng và Kim Long. Cho nên hai quyết Thư Hùng và Kim Long, các vị độc giả cần phải dốc hết công phu!

Còn về Chính Thần, tại sao đến nay tiểu đệ rất ít khi sử dụng? Thực ra là vì vẫn chưa cần dùng đến! Theo Thư Hùng Quyết của tâm truyền Huyền Không, chỉ khi nào cục hình thành Tụ Khí Cục hoặc Chuyên Khí Cục, thì mới cần luận đến vị trí bài bố của Chính Thần, cho nên hiện tại vẫn chưa cần dùng đến! Nếu độc giả xem nhà đoán việc có sai lầm, phần nhiều là gặp phải Tụ Khí Cục hoặc Chuyên Khí Cục, lúc này cần phải chú ý nhiều hơn đến hình thế xung quanh, tin rằng bạn sẽ càng có thu hoạch.

Còn về phép xem Âm Trạch, thực ra giống hệt với Dương Trạch. Đất Âm Trạch nếu không hình thành Tụ Khí Cục, thì thực ra không khác gì với chôn cất tùy tiện, cứ theo phép đã nói ở trước mà đoán

là được, những thứ khác chúng ta khi phân tích Bảo Chiếu Kinh sẽ bàn đến chi tiết hơn.

Tứ quyết chi tam: Ai Tinh quyết

Ai Tinh Quyết của Huyền Không Lục Pháp, các nhà sử dụng đều khác nhau, cái nào là thật? Tin rằng từ phần phân tích Thanh Nang Tự ở trước có thể phân biệt được thật giả. Đại đạo chân quyết tất nhiên phải tối giản, thì mới có thể lấy đơn giản để chế ngự phức tạp. Đây là chân lý vạn cổ không đổi! Lại có người nói Ai Tinh ghi ở Áo Ngữ, Thiên Ngọc, mà Thanh Nang Tự chỉ nói Thư Hùng, Kim Long, thực ra là tự cho mình là thông minh! Người đời đều biết Dương Công và Tằng Sư cùng được tâm truyền của Huyền Không, lẽ nào Tằng Sư làm Thanh Nang Tự lại giấu Ai Tinh Quyết không một chữ nhắc đến? Ngược lại Dương Công ở đầu Thanh Nang Áo Ngữ liền nhắc đến? Chẳng lẽ là phép Kham Dư mà hai người cùng dùng căn bản không giống nhau sao? Kỳ thực kinh văn không phải là bí kíp, bí quyết chân chính sẽ không viết ở trên đó. Kinh văn là viết cho người xem hiểu được xem, cho nên phần nhiều là ghi chép cách dùng có liên quan đến bí quyết, và thông qua ẩn ngữ để lại cho người đời sau chứng nghiệm quyết mà thôi. Cho nên muốn tìm ra bí quyết từ trong kinh văn, thực ra là việc mò kim đáy bể, người có lòng với học lý Huyền Không nên suy nghĩ kỹ, mà độc giả chớ nên lạc mất phương hướng! Về Ai Tinh, chúng ta ở trong Thanh Nang Tự đã nói gần hết rồi, bởi vì chúng ta là theo kinh văn mà giảng dạy, khó tránh khỏi có chút lộn

xộn, cho nên tiết này chúng ta trước tiên làm một chút chỉnh lý, sau đó sẽ bổ sung những điều chưa đề cập đến.

Cái gọi là Ai Tinh, tức là an Tinh Số lên trên Huyền Không Đại Quái, cho nên muốn biết Ai Tinh, thì không thể không luận đến Huyền Không Đại Quái. Huyền Không Đại Quái là do Tử Mẫu Công Tôn suy diễn mà ra, đoạn trước đã nói rất rõ, ở đây không nói lại nữa!

Huyền Không Đại Quái này từ trước đến nay trong tâm truyền Huyền Không đều giữ bí mật không tuyên bố, người ngoài mạch biết rất ít lại càng ít, vì thế lại phần nhiều gọi là Thiên Cơ. Tác dụng của nó trong hệ thống Huyền Không là vô cùng, một khi hiểu thấu được bí ẩn của Huyền Không Đại Quái, thì có thể thông suốt Thư Hùng, Kim Long, Ai Tinh, Thành Môn, Thái Tuế năm pháp, mà thống nhất Lục Pháp vào một thể đại dụng, đến sau đó thì có thể chứng kiến cảnh giới Đại Đạo Chí Giản mà Dịch nói!

Hình 87: Huyền không lục pháp đại quái đồ
Hình 87: Huyền không lục pháp đại quái đồ

Thực ra là vì Tinh (sao) là Số, cho nên là để tiện cho việc tính toán, nếu trực tiếp dùng Đại Quái để suy tính đương nhiên cũng được, duy chỉ có điều là tương đối rườm rà, không tiện! Ví dụ như Càn Đại Quái của Tý Sơn và Khôn Đại Quái của Tuất Sơn là hợp của phu thê chính phối, lại có tên là cục Thiên Địa Định Vị - nếu dùng Ai Tinh để luận, thì Tý Sơn Ai Tinh là 9 mà Tuất Sơn Ai Tinh là 1, 9 và 1 hợp 10 thì thành cục, luận như thế này chẳng phải là vừa nhanh vừa đơn giản sao? Vì vậy kinh nói Duy hữu Ai Tinh tối vi quý, tiết lậu Thiên Cơ bí (Chỉ có Ai Tinh là quý nhất, tiết lộ bí mật Thiên Cơ), tức là chỉ rõ Ai Tinh là giản quyết (quyết đơn giản) của Huyền Không Đại Quái!

Mà Ai Tinh thực ra có hai pháp, đoạn trước cũng đã nói rõ rồi, một là

Tiên Thiên Ai Tinh, hai là Hậu Thiên Ai Tinh.

Tiên Thiên Ai Tinh là an Tiên Thiên Tinh Số (số sao Tiên Thiên) lên trên Huyền Không Đại Quái, là dùng để phân tích Không Gian cách cục do Thư Hùng hình thành là tốt hay xấu.

Hình 88: Tiên Thiên Ai Tinh đồ
Hình 88: Tiên Thiên Ai Tinh đồ

Các 3 cách sử dụng Tiên Thiên Ai Tinh:

Lưỡng Phiến Phân Thanh: Dựa trên nguyên tắc âm dương phân dụng của Tiên Thiên Bát Quái, Huyền Không Đại Quái cũng tự nhiên âm dương phân dụng. Do đó, các sao 1, 2, 3, 4 tạo thành một phần, và 6, 7, 8, 9 cũng tạo thành một phần. Nếu long mạch và tú phong nằm trong phần 1, 2, 3, 4, thì thủy khẩu và thủy bạc phải nằm trong phần 6, 7, 8, 9, và ngược lại. Nếu không, hai phần sẽ không rõ ràng, vận qua sẽ dễ thất bại!

Thư Hùng Tương Đối: Sau khi Lưỡng Phiến Phân Thanh, tự nhiên Thư Hùng sẽ không bị hỗn tạp. Nhưng nếu có thể tương đối mà tọa lạc, thì tất nhiên sẽ hình thành một chính một linh tương đối, đồng thời Quái Khí cũng tạo thành Phu Thê Chính Phối, nhờ đó khí thế sẽ được ổn định lâu dài.

Hình 89: Càn phối với khôn gọi là Càn Khôn chính phối
Hình 89: Càn phối với khôn gọi là Càn Khôn chính phối

Toàn cục hợp thập: Tức là bốn cục hợp thập lớn như Thiên địa định vị, Sơn trạch thông khí, Lôi phong tương bạc, Thủy hỏa bất tương xạ. Đây là cực phẩm trong Đối xứng âm dương, phần lớn chỉ có ở những nơi chân long đại địa mới có thể thấy được.

Ví dụ như Lai Long và Tú Phong (đỉnh núi đẹp) phân biệt ở các địa chi Dần, Ngọ, Tuất, Dậu, thì bản thân một phiến Thư của nó tức là đồng quái thông khí. Mà Thủy Khẩu và Thủy Bạc lại nếu rơi vào Thân, Tý, Thìn, Mão, thì bản thân một phiến Hùng của nó cũng đồng quái thông khí. Mà hai khí Thư Hùng lại giao cấu với nhau mà phối thành Hợp Thập Cục của Thiên Địa Định Vị, thì sơn thủy khắp thành đều quy về khí của Càn Khôn, khí của nó chuyên mà mạnh, cho nên lực của nó lớn mạnh mà lâu dài không thoái! Xem hình ví dụ thì dễ biết, nay nêu một ví dụ, ba cục còn lại đoạn trước đã nói, tra xem là được. Hậu Thiên Ai Tinh là an Hậu Thiên Tinh Số (số sao Hậu Thiên) lên trên Huyền Không Đại Quái, là dùng để phán đoán Kim Long phân lấy Thời Gian Linh Chính có đắc vị hay không?

Hình 90: Huyền Không Lục Pháp Đại Quái phối Hậu Thiên
Hình 90: Huyền Không Lục Pháp Đại Quái phối Hậu Thiên

Từ khoá: 4 phân luận lục · ["huyền không lục pháp" · "huyền không lục pháp chân truyền" · "phongthuylienhoa" · "thầy vũ giới" · "dương công cổ pháp"

Bài viết liên quan

Bình luận

để gửi bình luận.