Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 2 trong loạt bài giảng Lục Pháp.
LUẬN BÀN SƠ LƯỢC VỀ LÝ DỊCH
Nếu muốn học tốt Huyền Không Lục Pháp, nhất định phải học tốt Dịch, bởi vì toàn bộ Huyền Không Lục Pháp đều được suy diễn từ
Dịch mà ra. Nếu Dịch học không thông, thì Huyền Không Lục Pháp cũng sẽ học không thông. Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu một số kiến thức cơ bản về Dịch trước, thì việc giảng dạy tiếp theo mới dễ dàng nắm bắt.
Thực tế, Dịch được cấu thành từ những đồ hình số đặc biệt và các ký hiệu tượng hình, sau đó, thông qua những con số và ký hiệu này để tiến hành một loạt các phép suy diễn. Trong số những con số và ký hiệu này, quan trọng nhất là Hà Đồ, Lạc Thư, Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái. Bốn yếu tố này thực sự bao hàm hệ thống cốt lõi của toàn bộ học thuyết Dịch. Hiểu được mối quan hệ tương hỗ giữa bốn yếu tố này, bạn đã nắm được hơn một nửa kiến thức về Dịch. Vì vậy, hãy bắt đầu từ đây, rồi sau đó chúng ta sẽ bắt đầu giảng dạy về Huyền Không.
Hà đồ:

2 7
3 8
5 0
4 9
1 6
Hình 4: Hà Đồ số
Hà Đồ chứa đựng bao hàm gồm bốn lý luận:
Cô âm bất sinh, độc dương bất trưởng: Số lẻ là dương, số chẵn là âm. Quan sát đồ hình có thể thấy năm phương của Hà Đồ đều có một số âm và một số dương, có thể biết được lý cô âm bất sinh, độc dương bất trưởng.
Sinh thành phân dụng: Các số trong năm phương của đồ hình đều chênh lệch nhau 5, mà 5 lại ở trung ương thổ, có thể biết dãy số được chia đôi từ 5. Do đó, 1, 2, 3, 4 ở bên trong là một nhóm, gọi là sinh số, còn 6, 7, 8, 9 ở bên ngoài là một nhóm, gọi là thành số. 50 ở trung ương bất động, từ đó biết hai số sinh thành phải phân dụng!
Ngũ hành định vị: Cổ nhân nói trời nam đất bắc, nên biết 1, 6 cùng tông ở dưới là phương bắc thủy, 2, 7 đồng đạo ở trên là phương nam hỏa, 3, 8 vi bằng ở bên trái chủ phương đông mộc, 4, 9 vi hữu ở bên phải chủ phương tây kim, 5, 10 đồng đồ thì ở trung ương là trung ương thổ. Đến đây thì ngũ hành mới định vị!
Ngũ hành thuận sinh: Sau khi ngũ hành Hà Đồ định vị, 1, 6 thủy thuận sinh 3, 8 mộc, 3, 8 mộc thuận sinh 2, 7 hỏa, 2, 7 hỏa
chuyển quan sinh 5, 10 thổ, 5, 10 thổ lại thuận sinh 4, 9 kim, 4, 9 kim thì hồi sinh 1, 6 thủy, cứ như vậy tuần hoàn thuận chiều kim đồng hồ mà thuận sinh, thủy, mộc, hỏa, thổ, kim, trời đất mới có thể sinh sôi không ngừng!
Lạc Thư:

Tương truyền vào thời đại Đại Vũ trị thủy, cũng có một thần quy xuất hiện ở bờ sông Lạc, những khắc vạch trên lưng nó cũng được sắp xếp đặc biệt, nên cũng được vẽ thành đồ thư, vì nó rất giống với Hà Đồ, nên gọi là Lạc Thư. Chí lý ẩn chứa trong sách cũng vô cùng, ảnh hưởng đến hậu thế cũng rất lớn!
Hình 5: Mô phỏng đồ hình Lạc Thư
Khẩu quyết: Đới Cửu, lý Nhất; tả Tam, hữu Thất; Nhị-Tứ vi kiên; Lục- Bát vi túc; Ngũ cư trung vị.
Dịch nghĩa: Trên đội 9, dưới đạp 1; bên trái 3, bên phải 7; 2 vai là 2 và 4; 2 chân là 6 và 8; 5 ở chính giữa.
4
9
2
3
5
7
8
1
6
Hình 6: Lạc Thư số
Lạc Thư chứa đựng bao hàm gồm bốn lý luận:
Âm dương phân dụng: Số dương trong sách ở bốn phương chính, còn số âm ở bốn phương góc, cho thấy bản chất âm dương vốn khác nhau, số dương cương cường nên làm chủ tể trời đất, số âm nhu nhược nên làm phụ thuộc, dương thịnh mà âm hợp, âm dương song hành mà không trái nghịch, nên biết lý âm dương phân dụng.
Âm dương vốn tương đối lại tương hợp: Quan sát số trong hình rối loạn không có quy tắc, dường như không có quy luật nào, nhìn kỹ lại thì chín số này bất kể dọc, ngang, chéo, tổng ba số đều là mười lăm, nên biết ngoại tượng vạn vật trời đất có lẽ không hoàn toàn giống nhau, nhưng bên trong thực sự có một khí cơ cân bằng tồn tại, mà nếu trừ đi số năm ở trung tâm, thì các số đối góc đều tổng là mười, vì số năm mươi vốn là số trung tâm, do đó có thể biết khí đối góc tổng mười có thể thông qua trung cung mà thông nhau, từ đó biết lý âm dương vốn tương đối lại tương hợp.
Hà Lạc tương thông: Vì Hà Đồ và Lạc Thư đều là số chứa lý, nên số của hai thứ có thể thông nhau.
Ngũ hành nghịch khắc: Sau đó đem số Hà Đồ thay vào số Lạc Thư, thành 1, 6 thủy nghịch khắc 2, 7 hỏa, 2, 7 hỏa nghịch khắc 4,
9 kim, 4, 9 kim nghịch khắc 3, 8 mộc, 3, 8 mộc chuyển quan lại khắc
5, 10 thổ, 5, 10 thổ mới lại hồi khắc 1, 6 thủy, cứ như vậy tuần hoàn ngược chiều kim đồng hồ mà nghịch khắc, thủy, hỏa, kim, mộc, thổ, sinh mệnh mới có thể tiến hóa không ngừng, bánh xe thời không mới có thể tiến lên!
Bát Quái:
Tương truyền vào thời Phục Hy cai quản thiên hạ, sau khi quan sát quỹ đạo vận hành của nhật nguyệt thiên đạo và quy tắc biến hóa của thủy hỏa địa giới, đã quy nạp mà đưa ra, phạm vi lý lẽ của nó bao trùm rộng lớn đến trời đất nhật nguyệt đều không ra ngoài, nhỏ đến tâm can tỳ phế của thân thể cũng đều ẩn chứa trong đó, do đó thông qua lý khí của Bát Quái, chúng ta có thể thông đạt ý định tạo vật ban đầu của tạo hóa, cũng có thể suy diễn quá trình biến hóa của vạn vật trời đất.

Cái gọi là Quái là một loại phù hiệu đồ đằng, mỗi Quái được cấu thành từ ba hào. Trong đó, ký hiệu — được gọi là dương hào, còn ký hiệu — — được gọi là âm hào, lần lượt đại diện cho hai khí âm dương trong trời đất. Theo nguyên tắc âm dương phân dụng mà suy diễn, thì Thái Cực nhất khí tự nhiên sẽ phân dụng mà sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi tự nhiên sẽ phân dụng mà sinh ra tứ tượng, cuối cùng tứ tượng lại phân dụng mà bát quái mới đại thành!
Quan sát hàng dưới cùng trong bát quái sinh thành đồ, Càn, Đoài... là tên Quái, còn ký hiệu trên chữ đó chính là cái gọi là Quái, tức là tám ký hiệu này mới là bát quái thực sự, còn Càn, Đoài chỉ là tên của nó mà thôi.
Phương thức ứng dụng của bát quái là dùng ý nghĩa đại diện của những phù hiệu đồ đằng này để suy diễn. Ký hiệu — trong mỗi bát
quái đều đại diện cho dương khí, đại diện cho tất cả những tính chất động, tích cực, vô hình, nam tính... trong giới tự nhiên, còn ký hiệu
— — đều đại diện cho âm khí, đại diện cho tất cả những tính chất tĩnh, tiêu cực, hữu hình, nữ tính... trong giới tự nhiên. Mỗi bát quái đều được cấu thành từ ba tầng âm dương hào.
Tầng trên cùng gọi là thượng hào, đại diện cho phía trên, bên ngoài, điểm cuối. Tầng giữa gọi là trung hào, đại diện cho trung gian, bên trong, quá trình. Tầng dưới gọi là sơ hào, đại diện cho phía dưới, bên ngoài, bắt đầu. Quái được suy diễn thông qua những ý nghĩa cơ bản này. Ví dụ, Quái Chấn, thượng hào và trung hào đều là âm hào, sơ hào là dương hào, kết hợp với ý nghĩa của hào vị có thể suy ra: vì trở ngại bên ngoài (tĩnh) quá lớn, nên ta phải chủ động tấn công mới có thể đột phá, do đó biết Quái Chấn có ý chủ động đột phá. Loại hóa trong sự vật có thể là trưởng nam (người đầu tiên có ý đột phá), nổi tiếng (khác với trước đây), sấm (địa khí phá đất mà ra), chân (dương động ở dưới), bất ngờ (đột ngột)... Độc giả suy nghĩ nhiều sẽ có thu hoạch, nhiều luận đoán thần kỳ trong âm dương trạch đều từ đây mà ra!
Bát quái chứa đựng bao hàm gồm bốn lý luận:
Tam sinh vạn vật: Một là sơ của dương, hai là thủy của âm, âm dương tương hợp thì sinh cơ mới xuất hiện, nên số bắt đầu từ một mà lấy ba làm đại dụng, do đó bát quái lấy ba hào làm dụng, cũng giống như lý của Lão Tử nói Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.
Lấy ít làm dụng, lấy trung làm quý: Một Quái có ba hào, trừ hai hào âm dương giống nhau, lấy hào còn lại làm chủ hào của Quái. Ba hào giống nhau thì lấy trung hào nắm quyền một Quái. Do đó, chủ hào của Quái Chấn là dương của sơ hào, chủ hào của Quái Khảm là dương của trung hào, chủ hào của Quái Cấn là dương của thượng hào, chủ hào của Quái Càn là dương của trung hào, chủ hào của Quái Tốn là âm của sơ hào, chủ hào của Quái Ly là âm của trung hào, chủ hào của Quái Đoài là âm của thượng hào, chủ hào của Quái Khôn là âm của trung hào.
Âm dương phân dụng: Bát quái phân dụng, lấy chủ hào của một Quái làm dụng, chủ hào là dương quy vào dương Quái, chủ hào là âm nạp vào âm Quái. Do đó, bốn Quái Chấn, Khảm, Cấn, Càn là dương, bốn Quái Tốn, Ly, Đoài, Khôn là âm. Đến đây, âm dương phân dụng, đồng khí tương cầu!
Loại tượng: Nếu bát quái là ngôn ngữ của Dịch, thì loại tượng là bản dịch của Dịch. Lý Dịch trong ứng dụng lấy tổ hợp Quái làm chủ cán, rồi dùng loại tượng để suy đoán mọi sự việc xảy ra, đây là một khâu rất quan trọng trong phong thủy kham dư, độc giả nhất định phải bỏ nhiều công sức!
Quái Càn: Trời, kiện, lão phụ, đầu, quan viên, lãnh tụ, bảo vật. Quái Chấn: Sấm, động, trưởng nam, chân, người thừa kế, tranh chấp, cây lớn. Quái Khảm: Nước, hãm, trung nam, tai, lãng nhân, trí, dâm, tiết niệu. Quái Cấn: Núi, chỉ, thiếu nam, tay, tiểu đồng, trở ngại, tôn giáo. Quái Khôn: Đất, thuận, lão mẫu, bụng, phụ nữ, bà chủ, sinh dục.
Quái Tốn: Gió, nhập, trưởng nữ, đùi, văn xương, mưu, thần kinh. Quái Ly: Lửa, lệ, trung nữ, tim, công chúng, phục vụ, mắt, tâm huyết. Quái Đoài: Đầm, duyệt, thiếu nữ, miệng, thiếp, phù thủy, khuyết tật, đẹp.
Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái:
Lý lẽ của bát quái đã rõ, nhưng bát quái truyền thế lại có hai loại, một loại tương truyền do Phục Hy lưu lại, một loại có lẽ do Văn Vương tạo ra. Cách giải thích thông thường là dùng nguyên tắc tiên thể hậu dụng để phân biệt. Quái của Phục Hy luận về lý đối đãi âm dương trời đất, nên là bản thể tiên thiên, do đó đặt tên là Tiên Thiên Bát Quái. Quái của Văn Vương luận về lý tuần hoàn khí lưu ngũ hành, nên là ứng dụng hậu thiên, do đó đặt tên là Hậu Thiên Bát Quái. Từ đó về sau, hai Quái tiên hậu thiên được phân dụng, để phân biệt thể dụng!
Tiên Thiên Bát Quái: Truyền rằng thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất tương xạ.
Sắp xếp phối hợp vị trí các Quái của Bát Quái như sau:

Dụng Quái sử nhật nguyệt địa định Tinh Sơn, Phân biện khí chi Âm Dương hỏa thủy,
Bất tương phối Bát Quái, tương dữ cải vi, Phong thủy như xứ, tắc khả kỷ nhật,
Phương Bắc, xuất Bắc hoành, khứ tiền diện
ngung,
Phương Bắc tiền hoành, khứ tiền diện ngung, Nhật Bắc đối tiền, diện bối tắc,
Nhật Bắc đối tiền, diện tiền bất khả dụng, Kỳ Bắc tiện tiền, diện bối tắc tắc,
Phương Nam tiến nghênh hành,
Vãng lai lục thập tứ phương như thị thành dã.
Hình 8: Mô phỏng tiên thiên bát quái và bài thơ cổ
Hậu Thiên Bát Quái: Truyền rằng đế xuất chấn, tề tốn, tương kiến ly, trí dịch khôn, duyệt đoài, chiến càn, lao khảm, thành cấn.
Truyền rằng:
Đế xuất hồ Chấn (Vua xuất hiện từ phương Chấn): Khởi đầu từ phương Đông, nơi Quái Chấn tượng trưng cho sự khởi động và bắt đầu.
Tề hồ Tốn (Hòa hợp ở phương Tốn): Điều hòa và phát triển ở phương Đông Nam, nơi Quái Tốn tượng trưng cho sự thâm nhập và lan tỏa.
Tương kiến hồ Ly (Gặp gỡ ở phương Ly): Giao tiếp và tỏa sáng ở phương Nam, nơi Quái Ly tượng trưng cho sự rực rỡ và quang sắc.
Trí dịch hồ Khôn (Làm việc ở phương Khôn): Lao động và phục vụ ở phương Tây Nam, nơi Quái Khôn tượng trưng cho sự thuận theo và nuôi dưỡng.
Thuyết ngôn hồ Đoài (Vui vẻ nói chuyện ở phương Đoài): Vui vẻ và trao đổi ở phương Tây, nơi Quái Đoài tượng trưng cho sự vui tươi và giao tiếp.
Chiến hồ Càn (Chiến đấu ở phương Càn): Đối mặt với thử thách ở phương Tây Bắc, nơi Quái Càn tượng trưng cho sự mạnh mẽ và quyết liệt.
Lao hồ Khảm (Mệt nhọc ở phương Khảm): Lao động vất vả và vượt qua khó khăn ở phương Bắc, nơi Quái Khảm tượng trưng cho sự hiểm trở và nỗ lực.
Thành ngôn hồ Cấn (Hoàn thành ở phương Cấn): Kết thúc và thành tựu ở phương Đông Bắc, nơi Quái Cấn tượng trưng cho sự dừng lại và hoàn thiện.

Hữu kiến thuyết Quái khởi ư Hà Đồ,
Vương Bát Quái nãi nhân dụng chi cư dã, Thiên chi tượng dã.
Dịch: Bên phải thấy thuyết Quái bắt nguồn từ Hà Đồ. Tám Quái được con người sử dụng theo vị trí nhất định. Đây là biểu tượng của Trời.
Hình 9: Mô phỏng hậu thiên bát quái và bài thơ cổ
Tiên Hậu Thiên Bát Quái chứa đựng bao hàm gồm bốn lý luận:
Tiên thiên là thể, hậu thiên là dụng: Trước đây đã nói đến nguyên nhân Quái phân tiên hậu thiên, xem lại kinh văn luận thuật
của Thuyết Quái Truyện, càng có thể hiểu rõ! Cái gọi là thể chỉ bản thể, kết cấu, quy tắc công thức... còn dụng chỉ ứng dụng, hiệu suất, tính toán công thức... Do đó, một sự việc, một vật nếu liên quan đến thể của kết cấu, thì phải dùng Tiên Thiên Bát Quái để luận, còn nếu liên quan đến dụng của ứng dụng, thì phải dùng Hậu Thiên Bát Quái để luận, như vậy thể dụng phân minh tự nhiên không lẫn lộn!
Quái vị bất đồng: Ngoài việc cách dùng khác nhau, điều rõ ràng nhất của Tiên Hậu Thiên Bát Quái là phương vị đại diện khác nhau. Cổ nhân nói thiên nam địa bắc, nên cổ nhân đều lấy hướng lên trên là phương nam để định phương vị bát phương. Do đó, phương nam chính là Quái Càn của tiên thiên, Quái Ly của hậu thiên. Sau khi phương nam đã định vị, thì bát Quái tự nhiên định vị theo thứ tự!
Đông Nam
ĐOÀI
Nam
CÀN
Tây Nam
TỐN
Đông
LY
Tây
KHẢM
Đông Bắc
CHẤN
Bắc
KHÔN
Tây Bắc
CẤN
Đông Nam
ĐOÀI
Nam
CÀN
Tây Nam
TỐN
Đông
LY
Tây
KHẢM
Đông Bắc
CHẤN
Bắc
KHÔN
Tây Bắc
CẤN
Đông Nam
TỐN
Nam
LY
Tây Nam
KHÔN
Đông
CHẤN
Tây
ĐOÀI
Đông Bắc
CẤN
Bắc
KHẢM
Tây Bắc
CÀN
Đông Nam
TỐN
Nam
LY
Tây Nam
KHÔN
Đông
CHẤN
Tây
ĐOÀI
Đông Bắc
CẤN
Bắc
KHẢM
Tây Bắc
CÀN
Tiên thiên bát quáiHậu thiên bát quái
Hình 10: Phương vị quái phối theo tiên thiên và hậu thiên
Do đó, đông nam là Quái Đoài của tiên thiên, Quái Tốn của hậu thiên, phương đông là Quái Ly của tiên thiên, Quái Chấn của hậu thiên, đông bắc là Quái Chấn của tiên thiên, Quái Cấn của hậu thiên, phương bắc là Quái Khôn của tiên thiên, Quái Khảm của hậu thiên, tây bắc là Quái Cấn của tiên thiên, Quái Càn của hậu thiên, phương
tây là Quái Khảm của tiên thiên, Quái Đoài của hậu thiên, tây nam là Quái Tốn của tiên thiên, Quái Khôn của hậu thiên! Từ đó có thể thấy, Tiên Hậu Thiên Bát Quái thực ra là chồng lên phương vị bát phương, mà vì cần ứng dụng, nên thông thường dùng Hậu Thiên Bát Quái để đại diện cho phương vị bát phương, ví dụ phương nam thì nói Ly phương, đây cũng là lý phân dụng.

15801692521469Tiên hậu thiên tương thông: Tiên Hậu Thiên Bát Quái tuy phương vị khác nhau, nhưng đều từ Lưỡng Nghi Tứ Tượng mà ra, nên vì đồng Quái mà có thể đồng khí tương thông, do đó Tiên Hậu Thiên Bát Quái có thể tương thông! Do đó biết Tốn Khôn hai phương đồng khí có thể tương thông, Cấn Càn hai phương đồng khí có thể tương thông, Ly Chấn hai phương đồng khí có thể tương thông, Đoài Khảm hai phương cũng đồng khí có thể tương thông. Khí tương thông này có ảnh hưởng rất lớn đến việc dùng trong Huyền Không học, không thể coi nhẹ.
Hình 11: Mô phỏng tiên thiên bát quái và Hậu thiên bát quái theo phương vị
Giải Mã Kinh Văn
Lời mở đầu Thanh Nang Tự là tổng cương của học lý Huyền Không, cho nên từ xưa đến nay được dùng làm giáo trình giảng dạy truyền thừa Huyền Không. Vì vậy, theo truyền thống, chúng ta hãy bắt đầu từ đây để đi vào giảng dạy Huyền Không Lục Pháp nhé!
Thanh Nang Tự bài này là do Tăng sư viết để tổng thuật pháp chỉ chân truyền của Dương Công, là tổng cương của bí quyết Thanh Nang. Từ trước đến nay, người chú giải rất nhiều, mà người tranh luận càng không biết bao nhiêu là kể, chỉ có trong truyền thừa Huyền Không, thư quyết thực sự là dùng để chứng thực pháp quyết. Cho nên, người không biết pháp quyết Huyền Không mà vọng luận kinh thư, thực sự là kẻ nhảy nhót ngoài tường đáng biết, giải kinh của họ tự nhiên nhiều chỗ vụn vỡ, trước sau mâu thuẫn!
Mà ta một kẻ vừa vặn đi đến vô danh tiểu bối vì sao dám nói như vậy? Bởi vì từ bây giờ, mọi người sẽ chứng kiến pháp diễn kinh chứng quyết mà từ trước đến nay chỉ có khẩu truyền tâm thụ, một mạch truyền thừa Huyền Không, từ nay về sau, các ngươi sẽ xác định rõ địa vị chính thống của Huyền Không Lục Pháp vậy!
Mà trước khi bắt đầu cần nhắc lại, Huyền Không Lục Pháp chính là
Nhất Tâm, Tứ Quyết, Nhất Pháp:
Nhất Tâm: Huyền Không
Tứ Quyết: Thư Hùng, Kim Long, Ai Tinh, Thành Môn.
Nhất Pháp: Thái Tuế
Hợp lại gọi chung là Huyền Không Lục Pháp.
Thanh Nang Tự
Dương Công dưỡng lão khán Thư Hùng, thiên hạ chư thư đối bất đồng. (Dương Công dưỡng lão xem Thư Hùng, thiên hạ các sách đối không đồng nhất.)
Tất cả các chương đầu tiên của kinh điển, phần lớn đều là chỗ quan trọng nhất, kinh văn Thanh Nang cũng vậy. Mà câu đầu tiên của đoạn kinh văn này, ta xem qua các chú giải của các nhà từ trước đến nay đều sai trọng điểm! Người đời phần nhiều coi trọng vì sao không nói âm dương mà lại nói Thư Hùng, kỳ thực trọng điểm lại ở chữ xem này. Đã nói xem, tức biết điều luận bàn là hình loan sơn thủy thấy bằng mắt vậy! Cho nên đoạn văn sau mới có câu tương kỳ âm dương quan lưu tuyền, chỉ rõ âm dương không phải dùng xem được! Vậy thì cần gì phải phân biệt âm dương và Thư Hùng ở đây có gì khác biệt? Câu này giải thích trực tiếp là, Dương Công cả đời (dưỡng lão tức chỉ ý từ nhỏ nuôi đến già) xem pháp Thư Hùng, thực sự khác biệt rất lớn so với phương pháp được ghi trong các sách thiên hạ, mà pháp khác biệt này, chính là dùng nhãn quyết Huyền Không để phân biệt Thư Hùng vậy!
Thư và hùng là chỉ chung sơn loan và lưu thủy trong giới tự nhiên, sơn loan và lưu thủy ở bất kỳ địa phương nào cũng sẽ tạo thành một loại cục thế đặc thù, mà Thư Hùng quyết là một phương pháp dùng để phán đoán cục thế được tạo thành là gì, trong đó lấy núi lai long và nước khí khẩu làm chỗ phán đoán quan trọng nhất, cho nên Thư Hùng quyết thường được gọi là pháp định cục. Chỉ có điều pháp này
cần dùng mắt để xem, cho nên cần phải thông suốt nhãn quyết, sau đó mới có thể luận Thư Hùng được!
Đợi nhãn quyết thông, tự nhiên Thư Hùng sẽ phân biệt được, trong đó lai long và khí khẩu cũng sẽ tự nhiên phân biệt rõ ràng, mà cục sơn thủy tự nhiên có thể định, nhân địa định cục chính là như vậy mà thôi!
Tiên khán Kim Long động bất động, thứ xét huyết mạch nhận lai long. (Trước xem Kim Long động hay không động, sau xét huyết mạch nhận lai long.)
Sau khi có thể xem hiểu Thư Hùng, việc đầu tiên khi đến thực địa phong thủy, chính là phải xem Kim Long động hay không động! Điều này chỉ việc xem Kim Long có đến khí khẩu hay không, vì Kim Long là khí linh thần Nguyên Vận, nơi đến nếu là khí khẩu của cục, thì vượng khí mới vào cục! Nếu Kim Long có động, thì vận vượng của địa phương này đã đến, mới có thể luận những điều khác, nếu không Kim Long không đến khí khẩu, Kim Long không động, thì tất cả đều không cần luận! Cho nên mới gọi là xem trước vậy!
Mà sau khi xác nhận Kim Long có động, lại quay đầu xem xét huyết mạch của huyệt vị từ phương nào mà đến! Huyết mạch này chỉ chỗ dây rốn giữa mẹ (phụ mẫu sơn) và con (huyệt tinh), trong pháp tắc hình loan còn gọi là nhập thủ, cũng gọi là lai long, tức chỉ ý long hành ngàn dặm sẽ từ phương nào nhập thủ kết huyệt.
Kinh nói sơn chủ nhân đinh thủy chủ tài, người xưa lập huyệt là trước cầu ấm no, sau cầu hương hỏa truyền thừa, cho nên phía trước
mới phải xem Kim Long động hay không động; thực ra vì cầu tài trước, sau đó mới cầu nhân đinh hưng vượng: thì lai long cũng phải đương vượng mới được, cho nên phải xét lại lai long từ phương nào mà đến, như vậy mới có thể phán đoán lai long một khí có được vận hay không; lai long cũng được khí chính thần Nguyên Vận thì cầu đinh có hy vọng, địa phương này mới có thể dùng được, đây chính là yếu nghĩa của Kim Long quyết vậy.
Long phân lưỡng phiến âm dương thủ, thủy đối tam xoa tế nhận tung. (Long mạch chia hai phần âm dương lấy, thủy mạch đối tam xoa kỹ nhận dấu vết.)
Sau khi xác nhận khí khẩu có được khí Linh Thần Nguyên Vận Kim Long, và lai long cũng có được khí Chính Thần Nguyên Vận, thì địa phương này mới có thể sử dụng được. Tuy nhiên, mặc dù có thể sử dụng được, nhưng vẫn có sự khác biệt về sức mạnh lớn nhỏ, vì vậy cần phải phán đoán tiếp, cục được hình thành bởi địa hình này có cấu trúc như thế nào, xem xét núi non sông nước trong cục có phải là vợ chồng tụ họp hay chỉ là duyên phận thoáng qua? Do đó, cần phải nhân cục hạ quái, tức là dùng Phi Tinh Quyết để phân tích.
Việc sử dụng Phi Tinh Quyết cần phải phân biệt sơn long và thủy long để luận. Sơn long do địa hình kết tụ rõ ràng, nên cần phải phân biệt lấy quái từ hai phần lai long và khí khẩu. Còn thủy long, địa hình ẩn hiện, nên trong phong thủy lấy tam xoa thủy khẩu rõ ràng làm khí khẩu của thủy long. Do mạch khí thủy long không rõ ràng, nên người đời thường cho rằng thủy long không coi trọng lai long. Vì vậy, Tăng
sư nói thẳng rằng cần phải nhận dấu vết ở tam xoa thủy khẩu, chỉ rõ lai long của thủy long chính là ở cung đối diện thủy khẩu! Cũng chính vì vậy, thủy long chỉ cần kỹ nhận tam xoa thủy khẩu là đủ.
Sau khi phân biệt lấy quái khí lai long và khí khẩu của sơn long và thủy long, cần dùng Phi Tinh Quyết để phân biệt xem quái khí Huyền Không được hạ từ lai long và khí khẩu có phải là Phu Phụ Chính Phối hay không. Nếu phối thành Phu Phụ Chính Phối thì phát phúc lớn lao! Nếu không phải cục chính phối, thì cần phải có sự phân biệt sử dụng trước sau, để tránh cái tệ tài đinh không vẹn toàn.
Đến lúc này, mới có thể dùng Quyết Thành Môn để quyết định cách lập hướng, để có thể thu nạp hết vượng khí của một địa phương vào huyệt để sử dụng. Do đó, mới bắt đầu đoạn văn tiếp theo để giải thích trực tiếp yếu nghĩa của Quyết Thành Môn!
Giang Nam long lai Giang Bắc vọng; Giang Tây long khứ vọng Giang Đông. (Long mạch Giang Nam đến, nhìn về Giang Bắc; long mạch Giang Tây đi, nhìn về Giang Đông.)
Đoạn này thực sự đã tiết lộ hết thiên cơ! Giang Nam là quái Càn, Giang Bắc là quái Khôn, Giang Tây là quái Khảm, Giang Đông là quái Ly. Vọng là hướng vậy! Rõ ràng chỉ ra rằng, nếu long mạch từ quái Càn mà đến, thì phải hướng về quái Khôn để thu khí, và nếu long mạch từ quái Khảm mà đến, thì phải hướng về quái Ly để thu khí, nói thẳng yếu nghĩa của Quyết lập hướng Thành Môn Huyền Không vậy! Rõ ràng minh thị như vậy, thử hỏi kinh văn Huyền Không có chỗ nào nói không rõ ràng, Tăng sư có chỗ nào giữ bí mật quá đáng?
Người không được truyền thừa tự nhiên thấy chỗ nào cũng không rõ ràng, người không biết pháp yếu tự nhiên không biết bí mật!
Thế nào là Thành Môn? Thành là khu vực được long mạch lai long khai trướng bao quanh, môn là khí khẩu ra vào! Cho nên tại sao gọi là Quyết Thành Môn, chính là dùng thành và môn để lập hướng định tuyến vậy!
Đoạn này nêu hai ví dụ về Quyết Thành Môn, trong đó có Thiên Địa định vị và Thủy Hỏa bất tương xạ, nhằm mục đích thu gọn và nêu bật điểm chính, từ đó có thể biết được quy tắc phong thủy mà Huyền Không luận bàn: xem Thư Hùng, nhận Kim Long, lấy Phi Tinh rồi sau đó dùng Thành Môn để lập hướng, các bước rất nghiêm ngặt.
Tăng sư dùng tám câu đầu của Thanh Nang Tự để nói rõ Tứ Quyết trong Lục Pháp, còn chỉ ra trình tự sử dụng, để hậu nhân kiểm chứng nguyên nhân cuốn sách được đặt tên là Thanh Nang Tự! Đây chính là công của diễn kinh chứng quyết, các lưu phái Huyền Không trong thế gian làm sao có thể tự biện minh được? Lại làm sao có thể diễn kinh chứng quyết được?
Thị dĩ thánh nhân bốc Hà Lạc, Lộc Giản nhị thủy giao Hoa Sơn; Tương kỳ âm dương quan lưu tuyền, bốc niên bốc thế trạch đô cung. (Vì vậy, thánh nhân bói Hà Lạc, hai dòng Lộc Giản giao nhau ở Hoa Sơn; xem xét âm dương, quan sát dòng chảy, bốc niên bốc thế, chọn cung đô thành.)
Âm dương được đề cập trong kinh văn, thường được hiểu là hai thần Linh Chính, đây là ứng dụng của Kim Long Quyết! Đoạn văn
trước đã làm rõ trình tự phong thủy truyền thừa Huyền Không, do đó, lấy ví dụ về việc định đô của nhà Chu, ngầm ám chỉ rằng nếu muốn quốc vận kéo dài hơn tám trăm năm như nhà Chu, nhất định phải phù hợp với học lý Huyền Không! Và ở đoạn này, Tăng sư lại mượn ví dụ nhà Chu, một lần nữa nhấn mạnh trình tự phong thủy Huyền Không!
Sơn Nhận hai dòng nước giao nhau ở Hoa Tung tức là xem Thư
Hùng (tức là xem long mạch và thủy pháp).
Xem xét âm dương, quan sát dòng chảy tức là nhận ra Kim Long,
lấy Ai Tinh.
Bói niên nguyệt, chọn cung đô thành tức là lập hướng Thành Môn. Tấn Thế Cảnh Thuần Truyện Thử Đoạn, Diễn Kinh Lập Nghĩa Xuất Huyền Không. (Truyền rằng Cảnh Thuần đời Tấn đã ghi chép đoạn này, diễn giải kinh điển, lập nghĩa, khai sinh Huyền Không.) Chu Tước phát nguyên sinh vượng khí, nhất nhất giảng thuyết khai ngu mông. (Chu Tước phát nguồn sinh vượng khí, từng điểm giảng giải khai thông ngu muội.)
Đoạn văn trước đã giải thích rõ ràng về ứng dụng và trình tự của Tứ Quyết, tuy nhiên, muốn ứng dụng Tứ Quyết thì phải hiểu rõ Nhất Tâm hay Lý Khí Tâm Ấn, vì vậy, Tăng sư quay lại làm rõ nguồn gốc truyền thừa của Huyền Không phong thủy và học lý Nhất Tâm.
Thế gian đa phần cho rằng mạch truyền thừa của Huyền Không bắt nguồn từ tổ sư Quách Phác đời Tấn, Tăng sư cũng xác nhận điều này, và theo Đồ phổ truyền thừa được sư phụ truyền dạy, luận điểm
này là chính xác. Tuy nhiên, vì thời gian quá xa xưa, mọi người chỉ nên tham khảo.
Về học lý Nhất Tâm trong Lục Pháp, còn được gọi là Lý Khí Tâm Ấn! Lý Khí Tâm Ấn được tổ sư Quách Phác suy diễn từ Kinh Dịch, mà Dịch có các nguyên tắc suy diễn như Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, Đại Quái, v.v., nên cần giảng giải từng điểm để có thể tâm lĩnh thần hội.
Chu Tước là nói đến thuần dương trong Ngọ, thuần dương này trong Lưỡng Nghi sinh hóa thành dương nghi, trong Tứ Tượng sinh hóa thành Thái Dương, trong Bát Quái sinh hóa thành quái Càn. Do đó, Ngọ là tổ của các quái, là nơi phát nguồn của lý quái Huyền Không, Lý Khí Tâm Ấn bắt đầu suy diễn từ phương Ngọ này. Nếu một trạch đất có thể nhận được lực của Ngọ, thì lực lượng sẽ lâu dài và to lớn hơn so với các phương khác, đây là lý do tại sao các kinh sư đời trước thường lấy chính Ngọ làm hướng.
Càn
Đoài
Ly
Chấn
Tốn
Khảm
Cấn
Khôn
Bát Quái
Tứ tượng
Lưỡng nghi
Hình 12: Mô phỏng hình thành Lưỡng nghi đến Bát Quái
Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Nhất là một hào, một hào động thì sinh ra âm dương. Nhị là hai hào, hai hào đều động thì sinh ra tứ tượng. Tam là ba hào, ba hào đều động thì sinh ra bát quái. Bát quái sinh ra vạn vật, cho nên bát quái là nguồn gốc của vạn vật.
Vì vậy, để đánh giá một người, một ngôi nhà, một mảnh đất tốt hay xấu, phải dựa vào bát quái. Kinh Dịch nói rằng bát quái định cát hung, tức là nói đến điều này.

Lưu ý! Trong đoạn kinh này có chứa lý khí tâm ấn, độc giả không nên xem nhẹ! Núi quản núi, nước quản nước, đây là lời nói không thể sai về âm dương. Lý khí tâm ấn phát triển đến bát quái là một bước nhỏ, đến đây đã có thể dùng để luận đoán cát hung. Nhưng muốn dùng nó, phải chuyển bát quái từ hình ngang sang hình tròn mới dùng được, hình tròn này gọi là Tiên Thiên Bát Quái.
Hình 13: Tiên thiên bát quái phối cửu cung đồ
Quan sát hình vẽ, các quái đều đối nhau từng cặp, âm dương phối hợp chính xác, đây chính là sự thể hiện tư tưởng cốt lõi của Kinh Dịch: âm dương tương đối và tương hợp. Cho nên Kinh Dịch nói: Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất tương xạ!
Vì vậy, nếu có một vật là Càn, ắt phải có một vật khác là Khôn đối nhau và tương hợp, thì thiên địa mới có thể định vị; nếu có một vật là Cấn, ắt phải có một vật khác là Đoài đối nhau và tương hợp, thì Sơn Trạch mới có thể thông khí; nếu có một vật là Chấn, ắt phải có một vật khác là Tốn đối nhau và tương hợp, thì lôi phong mới có thể tương bạc; nếu có một vật là Khảm, ắt phải có một vật khác là Ly đối nhau và tương hợp, thì thủy hỏa mới có thể không tương khắc mà tương tế!
Trong giới tự nhiên, nhìn quanh chỉ thấy sơn trạch thông khí, cho nên địa lý phong thủy đều lấy sơn trạch thông khí làm yếu tố quan trọng hàng đầu, tức là tuân theo luận thuật của Kinh Dịch. Sơn trạch thông khí này, sơn chỉ sơn loan, còn trạch chỉ thủy. Nếu hai yếu tố này có thể thông khí thì đại địa mới thành hình!
Luận về thông khí ở đây có ba tầng: một là thông khí của hình loan âm dương, hai là thông khí của Kim Long linh chính, ba là thông khí của lý quái Ai Tinh! Phần này trước tiên nói về thông khí của âm dương, hai phần còn lại sẽ được trình bày sau.
Thư là âm chất, bất động mà tiếp nhận dương khí, cho nên phối với Sơn trong tự nhiên. Hùng là dương khí, động mà nhập vào âm chất, cho nên phối với Thủy trong tự nhiên. Vì vậy, Sơn tự có quy tắc kết cấu của Thư để quản lý, còn Thủy cũng tự có quy tắc kết cấu của Hùng để quản lý. Đây chính là lý âm dương tương đối, tự nhiên không cần phải nói.
Nhưng nếu Thư và Hùng trong tự nhiên đều sống riêng lẻ mà không qua lại với nhau, thì sinh mệnh mới sẽ không thể sinh sôi, mà sinh mệnh cũ cũng ắt diệt vong! Cho nên Kinh Dịch nói cô âm bất trưởng, độc dương bất sinh, chỉ khi Thư và Hùng có thể giao cấu thì sinh mệnh mới có thể sinh sôi không ngừng. Đây lại là lý âm dương tương hợp, cũng là ý nghĩa thứ hai không cần phải nói!
Lý âm dương tương hợp này, chính là ý thông khí đã nói ở trên. Vậy Thư và Hùng phải làm thế nào mới có thể thông khí? Mấu chốt chỉ ở hai chữ giao cấu mà thôi. Thực ra, Thư và Hùng trong tự nhiên vốn dĩ luôn giao cấu, chỉ là bạn nhìn có thấy hay không mà thôi!
Luận điểm quan trọng của tiết này của Tăng sư là ở việc dùng Huyền Không để suy diễn lý Thư Hùng!
Hiểu được lý huyền diệu của âm dương, biết được sự suy vượng, sinh và tử; Không hỏi tọa sơn và lai thủy, chỉ cần gặp tử khí đều không lấy.
Phần trước đã hiểu được lý âm dương của Thư và Hùng, nhưng để nghiên cứu sâu hơn nội hàm của nó, hai yếu tố thư và hùng này vẫn là địa hình địa vật của tự nhiên, thực chất cũng là một âm lớn! Tại sao vậy? Vì chúng đều là không gian!
Kinh Dịch từ Thái Cực trở xuống, âm dương phân chia, thanh giả bay lên thành dương khí, trọc giả hạ xuống thành âm chất. Cho nên dương khí vốn vô hình mà hằng động, âm chất vốn hữu hình mà hằng tĩnh. Do đó, không gian nên được phân thuộc âm chất, lấy đặc tính hữu hình của nó! Rồi theo lý âm dương tương đối, ắt phải có một
dương khí khác tương ứng, đó là gì? Chính là thời gian, cũng lấy đặc tính vô hình của nó!
Ngày nay ai cũng biết, thế giới mà chúng ta đang sống là sự hợp thể của thời gian và không gian. Nếu thế giới chỉ có không gian mà không có thời gian, thì vạn vật sẽ không có sinh diệt, cũng không có hỉ lạc thay đổi. Còn nếu chỉ có thời gian mà không có không gian, thì sự vận hành của bốn mùa cũng không có chỗ dựa! Cho nên thời gian và không gian thực sự không thể thiếu một, vì vậy hợp thành luận thời không, đây cũng là một nghĩa khác của âm dương tương hợp!
Mà lý tương ứng của thời gian người xưa cũng biết, gọi là Nguyên Vận! Ngày xưa tính giờ dùng sáu mươi giáp tý chi, mà một vòng giáp tý là sáu mươi năm. Theo luận tam sinh vạn vật, hợp ba vòng là một trăm tám mươi (180) năm, cho nên chu kỳ tính thời gian lấy một trăm tám mươi năm làm một đơn vị lớn, gọi là một Đại Nguyên, và dưới một đại nguyên lại chia thành các tiểu vận để luận chi tiết, vì vậy gọi chung là Nguyên Vận.
Trong đó lại phân biệt có Thiên Vận và Địa Vận: Thiên Vận thống lĩnh trời, chủ tể sự hiển ảnh quang sắc của tử bạch đại tiểu hạn, quang của nó phân thành chín, vì tốc độ quang sắc hằng định, nên các vận đều có độ dài bằng nhau, lại lấy ba làm dụng, Tam Vận hợp thành một Tiểu Nguyên, còn gọi là Tam Nguyên Cửu Vận; còn Địa Vận thống lĩnh đất, chủ tể sự biến hóa của Kim Long sơn thủy đại địa, quái của nó có tám (bát), vì âm dương hào sai khác nên độ dài của Bát Vận đều khác nhau, lại lấy hai làm dụng, phân hai tiểu nguyên
mỗi tiểu nguyên thống lĩnh bốn quái dương bốn quái âm, còn gọi là Nhị Nguyên Bát Vận!
Từ xưa đến nay sự tranh luận về sự khác biệt giữa Thiên Vận và Địa Vận đã kéo dài, mỗi bên đều giữ một ý kiến, nhưng thực tế hai điều này đều là hệ thống truyền thừa của Huyền Không, thực sự không thể thiếu một, nếu không được truyền thừa thì làm sao có thể biết được! Thiên Vận dùng cho thái tuế, Địa Vận dùng cho Kim Long, hệ thống này phân chia rõ ràng, mà công năng thì khác nhau!
Tiết trước đã nói về lý Thư Hùng, nhưng Thư Hùng đã là âm chất, thì có sự phân biệt sinh tử suy vượng: sự phân biệt sinh tử suy vượng này thì phải dùng Địa Vận để tính toán.
Địa Vận được suy diễn từ Lạc Thư và Tiên Thiên Bát Quái.

Lạc Thư chủ tể sự lưu hành của khí cơ đại địa, phương pháp lưu hành của nó có hai đường thuận nghịch, thuận là 5>6>7>8>9>1>2>3>4, nghịch là 5>4>3>2>1>9>8>7>6,
thuận nghịch đều lần lượt xếp đi, dùng Bài Sơn Chưởng để xem có lẽ
sẽ rõ ràng hơn, thuận là một đường xoay thuận chiều kim đồng hồ, nghịch là một đường xoay ngược chiều kim đồng hồ.
