Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 5 trong loạt bài giảng Lục Pháp.
Cách sử dụng Hậu Thiên Ai Tinh cũng có ba cách:
Phân biệt hai phần: Dựa trên nguyên tắc hai phần linh chính của Hậu Thiên Bát Quái, Huyền Không Đại Quái cũng tự nhiên hình thành hai phần linh chính. Do đó, các sao 1, 3, 6, 8 tạo thành một phần, và 2, 4, 7, 9 cũng tạo thành một phần. Nếu long mạch và tú phong nằm trong phần 1, 3, 6, 8, thì thủy khẩu và thủy bạc phải nằm trong phần 2, 4, 7, 9, và ngược lại. Nếu không, hai phần sẽ không rõ ràng, vận qua sẽ dễ thất bại!
Linh chính đắc vị: Bài trước đã nói, số sao của Hậu Thiên Ai Tinh là vận 9h thần của sơn đó, và số hợp thập của nó là vận linh thần của sơn đó. Cho nên, sự phân bố của sơn thủy phải hợp linh chính, nếu không sẽ là linh chính đảo ngược! Ví dụ, long mạch của Nhâm sơn có sao 8, vận 8 phát đinh quý, đến vận 2 thì ngược lại thành linh chính đảo ngược và tổn hại đinh quý. Tuy nhiên, Địa Vận có 8, một sơn lẽ nào chỉ có hai vận sử dụng được sao! Vì ba Nhâm sơn, Tý, Quý cùng là hào của quái Khảm, cho nên khí của chúng tương thông. Do đó, long mạch của Nhâm sơn đều cát trong các vận 1, 3, 6, 8, và đều hung trong các vận 2, 4, 7, 9, và vận 8 và 2 là cát hung mạnh nhất!

Toàn cục hợp thập: Đây là cực phẩm trong linh chính đắc vị. Ví dụ, hiện tại là Hạ Nguyên Bát Vận, Chính Thần ở bốn sơn Khôn, Nhâm, Ất, Thìn, Linh Thần ở bốn sơn Dần, Ngọ, Tuất, Dậu. Nếu long mạch và tú phong nằm ở bốn sơn Khôn, Nhâm, Ất, Thìn, còn thủy khẩu và thủy bạc rơi vào bốn sơn Dần, Ngọ, Tuất, Dậu, thì sơn thủy đều là một khí thuần thanh của vận 8, là cách cục phát phú quý nhanh chóng trong vận 8. Tuy nhiên, quái khí không tương phối, qua vận dễ suy thoái!

Có người hỏi: Xem xét kỹ suy luận của Ai Tinh, kết quả thu được thực ra không khác gì với Kim Long, như vậy thì cần gì phải có hai bộ cách dùng, như thế này chẳng phải là tự tìm phiền phức sao?
Đáp rằng: Đây là phép lại luận kỹ càng hơn! Cái thu được của Thư Hùng, Kim Long, là phân ra hai phiến. Khi ở vận 1, 3, 6, 8 thì cần phương 1, 2, 3, 4 có núi, phương 6, 7, 8, 9 phải có nước, mà khi ở
vận 2, 4, 7, 9 thì ngược lại cần phương 6, 7, 8, 9 có núi, 1, 2, 3, 4 phải có nước, như vậy thì hai phiến phân rõ ràng lại rành mạch! Duy chỉ có, như vậy thì phạm vi của nó lại quá rộng mà thành khó phân mạnh yếu. Cho nên nếu Thư Hùng Hình Thế của nó có thể tự một quái mà thúc (thu lại) đến một sơn, thì năng lượng của nó càng tập
trung, mà mạnh yếu của nó càng rõ ràng! Cho nên biết, khi Thư Hùng của một cuộc đất có thể được Kim Long, thì là vượng cục của đương vận, nếu nó lại có thể kiêm được Ai Tinh đương vận, thì càng là vượng trong vượng vậy!
Duy chỉ có điều độc giả cần phải nhận biết, nếu Thư Hùng Hình Thế của một cuộc đất có thể tự một quái mà thúc đến một sơn, thì hình cục của cuộc đất này phần nhiều hình thành thuộc Tụ Khí Cục hoặc Chuyên Khí Cục. Nói cách khác, Ai Tinh Quyết thực ra phần nhiều là chuyên dùng cho hai cục này, cho nên nếu hình cục của một cuộc đất không phải là Tụ Khí Cục hoặc Chuyên Khí Cục, thì thực ra không cần phải luận đến Ai Tinh, chỉ cần dùng hai quyết Thư Hùng và Kim Long mà xem là được rồi!
Tứ quyết chi tứ: Thành Môn Quyết
Cái gọi là Thành, là chỉ khu vực mà Lai Long mở trướng bao vây để bảo vệ huyệt điểm. Mà cái gọi là Môn, chính là Khí Khẩu ra vào của thành này! Sơn thủy hình thế của một cuộc đất, chỉ khi có thể hình thành Thành Môn, thì sinh khí trong cục của nó mới có thể ngưng tụ mà không bị thoát, ở đó tạo tác thì mới có thể phúc ấm lâu dài.

LONG
MÔN
LONG
MÔN
Hình 93: Hình vẽ minh họa Long và Môn của một huyệt vị
Cái gọi là Thành Môn Quyết là chỉ pháp quyết lập hướng dựa vào Thành Môn. Kinh nói: Thành Môn nhất quyết tối vi lương, an trạch lập phần đại cát xương, tức là chỉ rõ Thành Môn Quyết là dùng để lập hướng, mục đích là mượn hướng này để thu nạp sinh khí được Thành Môn ngưng tụ trong cục. Một khi lập hướng không hợp Thành Môn, thì toàn bộ sơn thủy trong thành đều không liên quan đến ta! Cho nên Thành Môn và Thành Môn Quyết căn bản là hai chuyện khác nhau. Thành Môn là danh từ hình loan, trong Thư Hùng Quyết thì gọi là Khí Khẩu. Quan sát bài trước có thể thấy, hình cục khác nhau thì Khí Khẩu cũng khác nhau. Pháp phán đoán Khí Khẩu của động khí cục và nạp khí cục đã được nói chi tiết ở bài trước. Khí Khẩu của Tụ Khí Cục và Chuyên Khí Cục có nhiều biến hóa hơn, chúng ta sẽ từ từ bàn sau.
Kinh nói: Bát quốc Thành Môn tỏa chính khí, chữ tỏa này thực sự nói hết yếu lĩnh của pháp Thành Môn. Tuy chữ tỏa chỉ có một chữ, nhưng biến hóa trong đó lại vô vàn, cho nên tổ sư mới phân cục để dùng, để thu hiệu quả đơn giản. Người giỏi xem đất, đến một địa điểm chỉ cần ngẩng đầu nhìn là biết Thành Môn ở đâu. Người mới học cần đến thực địa quan sát nhiều hơn, lâu dần nhãn giới tự mở ra! Tìm ra Thành Môn ở đâu, Thành Môn Quyết mới là anh hùng có đất dụng võ!
Thành Môn Quyết của Huyền Không Tân Truyền, ứng với hình cục tự nhiên khác nhau, phân thành Sơn Long Cục, Thủy Long Cục và Tạp Cục để luận. Sau đó lại dựa vào lý quái khác nhau, mà phân thành ba hệ thống lớn Giang Đông Quái, Giang Tây Quái và Nam Bắc Phụ Mẫu Quái, để phối hợp với Thư Hùng và Ai Tinh sử dụng. Cuối cùng lại dựa vào mục đích tạo tác thực tế khác nhau, phân thành Trực Đạt, Bổ Cứu và Kiêm Khí ba loại thủ pháp, để phối hợp với Kim Long và Ai Tinh sử dụng. Cho nên, nếu chu toàn được thì phúc ấm miên miên. Cách dùng Thành Môn Quyết là thống hợp Tam Quyết Thư Hùng, Kim Long, Ai Tinh thành một thể!
Giang Đông Quái, Giang Tây Quái và Nam Bắc Phụ Mẫu Quái ba loại này, từ trước đến nay đều giấu kín không công bố, người đời biết được thực sự rất ít. Tuy nhiên, lý khí trong đó lại mật thiết không thể tách rời với Tâm Ấn. Không hiểu lý Tâm Ấn thì thực sự khó nói rõ giảng minh, cho nên hôm nay chúng ta tạm thời không bàn đến điều
này, đợi chúng ta phân tích lý khí tổng luận của Thiên Ngọc Kinh thì sẽ nói chi tiết sau, ở đây độc giả tạm thời không cần nóng vội.
Thành Môn Quyết Sơn Long Cục: Thành Môn Quyết của Sơn Long, bài trước đã luận giải chi tiết, pháp lấy Lai Long làm chủ thể, phối hợp với pháp Tà chính thụ lai âm dương thủ để lấy dùng, còn gọi là Vạn Tự Quyết.

ĐOÀI
CÀN
TỐN
LY
KHẢM
CHẤN
KHÔN
CẤN
Bát Quái Linh Chính Đồ
Quan sát hình vẽ có thể thấy, nếu lai long ở Khôn 1, thì phải tọa sơn Cấn 6, vì lai long phải đắc chính thần, cho nên tọa sơn chắc chắn sẽ là linh thần (xem Bát quái linh chính đồ). Do đó, pháp tọa linh hướng chính mới là pháp âm dương thủ chân chính, tuyệt đối không
phải cái gọi là tọa chính hướng linh của các thầy tầm thường. Cần biết rằng, Thành Môn lập hướng mà sai, thì công sức trước đó đổ sông đổ biển!
Cho nên:
Nếu lai long ở Cấn 6, thì phải tọa sơn Khôn 1.
Nếu lai long ở Khảm 7, thì phải tọa sơn Tốn 2.
Nếu lai long ở Tốn 2, thì phải tọa sơn Khảm 7.
Nếu lai long ở Càn 9, thì phải tọa sơn Đoài 4.
Nếu lai long ở Đoài 4, thì phải tọa sơn Càn 9.
Nếu lai long ở Ly 3, thì phải tọa sơn Chấn 8.
Nếu lai long ở Chấn 8, thì phải tọa sơn Ly 3.
Tiếp theo, pháp tịnh âm tịnh dương của hào vị nhất định phải được xem xét, nếu không long khí không thuần, lực lượng sẽ giảm đi rất nhiều.

Nếu Lai Long ở Sơ Hào (hào đầu), thì cần tọa sơn ở Sơ Hào.
Nếu Lai Long ở Trung Hào (hào giữa), thì cần tọa sơn ở Trung Hào. Nếu Lai Long ở Thượng Hào (hào trên), thì cần tọa sơn ở Thượng Hào.
Nếu Lai Long kiêm Sơ Trung Hào (hào đầu và hào giữa) mà đến, thì cần tọa sơn Sơ Hào kiêm Trung Hào hoặc Trung Hào kiêm Sơ Hào. Nếu Lai Long kiêm Trung Thượng Hào (hào giữa và hào trên) mà đến, thì cần tọa sơn Trung Hào hoặc Trung Hào kiêm Thượng Hào. Nếu Lai Long kiêm Sơ Thượng Hào (hào đầu và hào trên) mà đến, thì cần tọa sơn Sơ Hào của Tứ Chính. Đây là vì Thượng Hào của một quái là Kháng Long Hữu Hối, không thể kiêm.
Ở trên đã đem toàn bộ đại cương của Sơn Long Thành Môn Quyết nói rõ ràng, độc giả làm nhiều ví dụ bằng hình vẽ tự nhiên sẽ quen thuộc.
Cuối cùng, không phải tất cả Sơn Long đều dùng Vạn Tự Quyết để lấy tọa hướng. Sơn Long Cục mà đoạn này nói tới, là chỉ Sơn Long Tụ Khí Cục. Nếu một cuộc đất không hình thành Tụ Khí Cục, thì không dùng Vạn Tự Quyết để lập hướng, như đất nghĩa trang công cộng hoặc đất sườn núi thông thường, lúc này thì đổi sang dùng Tạp Cục Thành Môn Quyết mà luận.
Thành Môn Quyết Thủy Long Cục:
Thành Môn Quyết của Thủy Long, đoạn trước cũng đã luận rất kỹ, phép lấy Thủy Khẩu suy ngược Lai Long làm chủ thể, phối hợp với phép Càn Khôn Cấn Tốn để lấy dùng, lại có tên là phép Tiên Hậu Thiên Tương Thông.

Hãy nhớ! Khẩu quyết tiên hậu thiên tương thông là tiên thiên lai long hậu thiên hướng, hậu thiên lai long tiên thiên hướng, cho nên:
Khi thủy khẩu ở Càn, lai long đến từ Tốn, thì phải hướng Khôn hoặc hướng Đoài để thu khí.
Khi thủy khẩu ở Khôn, lai long đến từ Cấn, thì phải hướng Càn hoặc hướng Chấn để thu khí.
Khi thủy khẩu ở Cấn, lai long đến từ Khôn, thì phải hướng Tốn hoặc hướng Khảm để thu khí.
Khi thủy khẩu ở Tốn, lai long đến từ Càn, thì phải hướng Cấn hoặc hướng Ly để thu khí.
Khi thủy khẩu ở Khảm, lai long đến từ Ly, thì phải hướng Đoài hoặc hướng Khôn để thu khí.
Khi thủy khẩu ở Ly, lai long đến từ Khảm, thì phải hướng Chấn hoặc hướng Càn để thu khí.
Khi thủy khẩu ở Đoài, lai long đến từ Chấn, thì phải hướng Ly hoặc hướng Cấn để thu khí.
Khi thủy khẩu ở Chấn, lai long đến từ Đoài, thì phải hướng Khảm hoặc hướng Tốn để thu khí.
Đương nhiên, pháp tịnh âm tịnh dương của hào vị vẫn phải được xem xét, nếu không long khí cũng sẽ không thuần, lực lượng sẽ giảm đi rất nhiều.
Nếu lai long ở hào sơ, thì phải tọa sơn hào sơ. Nếu lai long ở hào trung, thì phải tọa sơn hào trung. Nếu lai long ở hào thượng, thì phải tọa sơn hào thượng.
Nếu lai long kiêm hào sơ trung mà đến, thì phải tọa sơn hào sơ kiêm trung hoặc hào trung kiêm sơ. Nếu lai long kiêm hào trung thượng mà đến, thì phải tọa sơn hào trung hoặc hào trung kiêm thượng. Nếu lai long kiêm hào sơ thượng mà đến, thì phải tọa sơn hào sơ của Tứ Chính. Điều này là do hào thượng của một quái là kháng long hữu hối, không thể kiêm. Nếu tạm thời sử dụng, thì phải ít dùng luận xuất quái, vận qua dễ phát hung, ít dùng là tốt nhất.
Tuy nhiên, do thủy long không giống sơn long, có thể dùng la bàn chu mật để tụ khí, cho nên, ngoài yêu cầu tiên hậu thiên tương thông và tịnh, còn phải dùng pháp sinh nhập khắc nhập mới có thể thu hết khí của thủy long!
Chúng ta thử lấy ví dụ khi thủy khẩu ở Càn, lai long đến từ Tốn, thì phải hướng Khôn để thu khí để minh họa, vì phải xem xét nguyên tắc tịnh trước, nên chỉ có ba khả năng sau đây, tức là thủy khẩu ở Hợi thì phải hướng sơn Thân thu khí, thủy khẩu ở Càn thì phải hướng sơn Khôn thu khí, thủy khẩu ở Tuất thì phải hướng sơn Mùi thu khí.

Và theo nguyên tắc Hà Lạc tương thông, số 1, 6 có ngũ hành là thủy, số 2, 7 có ngũ hành là hỏa, số 3, 8 có ngũ hành là mộc, số 4, 9 có ngũ hành là kim, số 10 thuộc trung ương thổ mà không dùng. Cho nên, sơn Hợi là mộc, sơn Càn là hỏa, sơn Tuất là kim thủy, sơn Thân là kim mộc, sơn Khôn là thủy và sơn Mùi là hỏa. Vì vậy, thủy khẩu ở Hợi mà hướng Thân, là kim của hướng khắc mộc của thủy khẩu, đây là khắc xuất nên không thể dùng. Còn thủy khẩu ở Càn mà hướng Khôn, là thủy của hướng khắc hỏa của thủy khẩu, đây cũng là khắc xuất nên không thể dùng. Cuối cùng, thủy khẩu ở Tuất mà

hướng Mùi, là thủy của thủy khẩu khắc hỏa của hướng, đây là khắc nhập mới có thể dùng. Cho nên, cục này thực sự chỉ có hướng sơn Mùi là dùng được!
Hình 98
Ở trên cũng đã đem toàn bộ đại cương của Thủy Long Thành Môn Quyết nói rõ ràng, độc giả nhất định phải làm nhiều ví dụ bằng hình vẽ, lâu dần tự nhiên sẽ thành thạo.
Và cuối cùng cũng giống như vậy, không phải tất cả Thủy Long đều dùng phép Tiên Hậu Thiên Tương Thông này để lấy tọa hướng. Thủy Long Cục mà đoạn này nói tới, cũng là chỉ Thủy Long Tụ Khí Cục. Nếu một cuộc đất không hình thành Tụ Khí Cục, thì không dùng phép Tiên Hậu Thiên Tương Thông này để lập hướng, như đất ven sông
hoặc đất ven hồ thông thường, cũng đổi sang dùng Tạp Cục Thành
Môn Quyết mà luận.
Tạp Cục Thành Môn Quyết:
Do trên có thể biết, kỳ thực Sơn Long Cục Thành Môn Quyết và Thủy Long Cục Thành Môn Quyết không dùng nhiều, bởi vì cái gọi là Tụ Khí Cục, kỳ thực chính là chỉ bảo địa mà chân long kết huyệt. Trong đó Thủy Khẩu, Minh Đường, Huyệt Tinh, Lai Mạch, Triều Án,
v.v. các khâu quan trọng, yêu cầu đều tỉ mỉ không sai sót, cho nên muốn thành cục của nó thực sự không dễ. Duy chỉ có người xưa nghiên cứu phần nhiều là cái này, cho nên tư liệu để lại là phong phú nhất, mà đối với đất không hợp hình cục, thì phần lớn bỏ không dùng, mà số ít dùng được thì liệt vào luận Tạp Cục, coi là thứ yếu, mà chọn dùng! Chỉ là thời thế thay đổi, hiện nay ngược lại đất ít người đông, há có nhiều chân long kết huyệt như vậy mà dùng? Cho nên Tạp Cục ngày nay ngược lại nhiều, đặc biệt là ở phần Dương Trạch là nhiều nhất.
Tục ngữ nói Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (Bất hiếu có ba, không có con nối dõi là lớn nhất), cho nên vì con cháu nối dõi tông đường mà tính, người xưa chọn nhà cũng không phải cầu được long huyệt thì không được. Mà người nay chọn nhà ngược lại không giống như người xưa nghiêm ngặt như vậy, thực ra là do phần nhiều cầu hiệu quả nhanh, mà lấy mục đích Dần táng Mão phát (táng tháng Dần, phát tháng Mão) - Cho nên nếu một cuộc đất chỉ được một sơn, một
thủy, một khí, một tụ thì cũng lấy dùng, như thế phát phúc nhanh chóng, nhưng lại không được lâu dài như người xưa!
Cho nên luận về Tạp Cục, độc giả ở đây cần phải dốc nhiều công phu! Dương Trạch ngày nay dùng Tạp Cục rất nhiều, nếu theo Thư Hùng Định Cục mà lập luận, thì Chuyên Khí Cục, động khí cục, nạp khí cục, v.v., đều là dùng Tạp Cục Thành Môn Quyết, cho nên biết tầm quan trọng của nó!
Vậy, rốt cuộc thế nào là Tạp Cục Thành Môn Quyết?

Kỳ thực chính là phép Giang Nam Long lai Giang Bắc vọng, Giang Tây Long khứ vọng Giang Đông mà đoạn đầu Thanh Nang Tự nói, lại có tên là phép Tứ Đại Cục, phép Hợp Thập Cục.
Hình 99
Quan sát hình minh họa Huyền Không Đại Quái, sự phân bố của 32 đại quái trong 24 sơn như sau:
Nạp quái Chấn Quái có bốn sơn Giáp, Quý, Thân, Tốn.
Nạp quái Khôn Quái có bốn sơn Dần, Ngọ, Tuất, Dậu.
Nạp quái Càn Quái có bốn sơn Thân, Tý, Thìn, Mão.
Nạp quái Khảm Quái có bốn sơn Tý, Mão, Tỵ, Mùi.
Nạp quái Tốn Quái có bốn sơn Canh, Đinh, Dần, Càn.
Nạp quái Đoài Quái có bốn sơn Cấn, Bính, Tân, Tuất.
Nạp quái Cấn Quái có bốn sơn Khôn, Nhâm, Ất, Thìn.
Nạp quái Ly Quái có bốn sơn Ngọ, Dậu, Hợi, Sửu.
Và theo nguyên tắc âm dương tương đối lại tương hợp của Tiên Thiên Bát Quái, 32 quái này có thể phối thành bốn loại tổ hợp, tức là bốn đại cục Thiên địa định vị, Sơn trạch thông khí, Lôi phong tương bạc, Thủy hỏa bất tương xạ:
Thiên địa định vị cục: Bốn sơn Thân, Tý, Thìn, Mão phối với bốn sơn Dần, Ngọ, Tuất, Dậu.
Sơn trạch thông khí cục: Bốn sơn Khôn, Nhâm, Ất, Thìn phối với bốn sơn Cấn, Bính, Tân, Tuất.
Lôi phong tương bạc cục: Bốn sơn Giáp, Quý, Thân, Tốn phối với bốn sơn Canh, Đinh, Dần, Càn.
Thủy hỏa bất tương xạ cục: Bốn sơn Tý, Mão, Tỵ, Mùi phối với bốn sơn Ngọ, Dậu, Hợi, Sửu.
Sau khi biết được cấu trúc của Tứ Đại Cục này, thì nên sử dụng như thế nào?
Khẩu quyết nói: Nếu một địa điểm ở gần, có lai long, tú phong, khí khẩu, thủy khẩu hoặc thủy bạc có một trong số đó mạnh, thì có thể dùng pháp Tứ Đại Cục để thu nạp sinh khí của nó!
Ví dụ, lai long hoặc tú phong ở bốn sơn Thân, Tý, Thìn, Mão, thì có thể hướng bốn sơn Dần, Ngọ, Tuất, Dậu để thu nạp khí của nó. Nếu dùng trong vận 6, thì đương vận sẽ lập tức thôi quý.

Ngược lại, nếu lai long hoặc tú phong ở bốn sơn Dần, Ngọ, Tuất, Dậu, thì có thể hướng bốn sơn Thân, Tý, Thìn, Mão để thu nạp khí của nó. Nếu dùng trong vận 2, thì đương vận sẽ lập tức thôi quý.

Ngược lại, nếu lai long hoặc tú phong ở bốn sơn Dần, Ngọ, Tuất, Dậu, thì có thể hướng bốn sơn Thân, Tý, Thìn, Mão để thu nạp khí của nó. Nếu dùng trong vận 2, thì đương vận sẽ lập tức thôi quý.

Ngược lại, nếu khí khẩu, thủy khẩu hoặc thủy bạc ở bốn sơn Dần, Ngọ, Tuất, Dậu, thì có thể hướng bốn sơn Thân, Tý, Thìn, Mão để thu nạp khí của nó. Nếu dùng trong vận 8, thì đương vận sẽ lập tức thôi tài.

Trên đây lấy Thiên địa định vị cục làm ví dụ, ba cục còn lại thì cách dùng đều giống nhau, độc giả tự mình suy luận theo lý mà vẽ hình là được, nên không nói thêm nữa.
Cần chú ý rằng, pháp Tứ Đại Cục này là chuyên thu một khí để
dùng, cho nên vận qua thì suy thoái cực nhanh, đặc biệt là lúc thượng
sơn hạ thủy, e rằng sẽ có lo lắng tổn đinh bại tài, tuyệt đối không thể không cẩn thận!
Đến đây đã nói rõ đại khái về khái quát của Thành Môn Quyết Tạp Cục. Tuy nhiên, xét về thực tế, các hình cục khác nhau thì trọng điểm lấy dùng của Thành Môn Quyết Tạp Cục đều khác nhau, vẫn cần phân loại từng loại để bàn. Tài liệu lần này chúng ta sẽ giải thích chi tiết toàn bộ bí mật Thành Môn Quyết của lưỡng nghi cục, để độc giả có thể mở rộng tầm mắt. Thành Môn Quyết của các cục còn lại chúng ta sẽ từ từ phân tích từng cục sau.
Thành Môn Quyết Tạp Cục này thời xưa là pháp phụ, xã hội ngày nay thì thành pháp chủ! Tuy nhiên, thế cục đất đai không hoàn chỉnh, nên tài đinh thực sự khó vẹn toàn, được tài thì phần lớn không có quý, đinh nhiều thì tài yếu! Cho nên, nếu tính đến sự trường trị cửu an, thì theo sư phụ dạy, âm trạch vẫn phải lấy tụ khí cục làm chủ, còn dương trạch thì có thể dùng tạp cục, dù sao tụ khí cục ít mà tạp cục nhiều, đây cũng không mất đi một pháp môn tiện lợi, có thể tham khảo.
Về phương pháp định cục của tụ khí cục, đợi chúng ta phân tích Đô Thiên Bảo Chiếu Kinh thì sẽ bàn chi tiết sau!
Nhất Pháp: Thái Tuế Pháp
Trong hệ thống phong thủy Huyền Không, sau khi một địa điểm được định cục Thư Hùng, xác nhận Kim Long linh chính đắc vị, kiêm thu được Ai Tinh, cuối cùng dựa vào Thành Môn để quyết định tọa
hướng, các bước như vậy thực sự đã gần như hoàn hảo, tại sao sau tứ quyết còn phải thêm một thái tuế pháp nữa?
Thực ra, việc xem phong thủy, từ trước đến nay coi trọng hai điều, một là xem xét sự hưng suy họa phúc trong quá khứ, để lấy lòng tin của chủ sự, hai là dự đoán đinh tài quý thọ trong tương lai, để định công dụng tạo tác thôi phát. Mà hai điều này, chính là cái gọi là thái tuế pháp!
Thái tuế pháp của lục pháp, nội dung trong đó rất phức tạp, dựa vào thời gian dài ngắn mà luận, thì chia thành ba bộ đại hạn, tiểu hạn, lưu niên để dùng. Nếu dựa vào ứng dụng thực tế mà nói, thì lại có thể chia thành bốn hạng mục lớn tuế phù, ứng sự, thôi cát, trạch cát, mỗi phần trong đó đều liên quan mật thiết đến tứ quyết khác, cho nên muốn sử dụng linh hoạt thái tuế pháp này, thì nền tảng tứ quyết đã nói ở trên phải vững chắc.
Cho nên trong nhập môn giải bí thiên này, chúng ta sẽ tập trung vào một đường lưu niên trong đó để giảng thuật, phần đại hạn và tiểu hạn, để lại sau này chúng ta sẽ bàn chi tiết. Mà đường lưu niên thái tuế, tuy là đơn giản nhất trong ba đường, nhưng lại liên quan đến tuế phù quan trọng nhất, một khi giao tiếp của tuế phù không thể phán đoán rõ ràng, thì điểm khởi đầu của Kim Long Nguyên Vận sẽ không thể phân biệt, do đó hai phần linh chính sẽ không có chỗ dựa, và cát hung của nó sẽ không thể phân biệt được!
Lưu Niên Thái Tuế Pháp:

Lưu niên thái tuế là thống lĩnh của năm trị! Lịch Giáp Tý cổ dùng mười thiên can phối hợp với mười hai địa chi, mà vì thiên can hư phù ở trên, nên năm trị lấy địa chi làm chủ, lấy thiên can làm phụ, dựa theo lý khí âm dương tương đối lại tương hợp, cho nên địa bàn không gian của 24 sơn, sẽ tương ứng với 12 địa chi năm trị của thời gian, cho nên địa bàn của 24 sơn có thể tính toán điểm rơi của thái tuế trị niên.
Hình 104: Địa bàn 24 sơn
Vấn đề là địa bàn có 24 sơn, nhưng lưu niên chỉ có 12 địa chi, làm thế nào để đối ứng? Kinh nói tiên thiên la kinh thập nhị chi, hậu thiên tái dụng can dữ duy, từ đó có thể biết, địa bàn 24 sơn thực lấy 12
chi sơn làm chủ, 8 can 4 duy làm phụ. Cho nên, chúng ta có thể chia 24 sơn thành 12 chi chủ sơn trước, như hình vẽ:

Trong phạm vi bên trái Nhâm sơn, sơn Tý và bên phải sơn Quý, thì thuộc về sơn Tý.
Trong phạm vi bên trái sơn Quý, sơn Sửu và bên phải sơn Cấn, thì thuộc về sơn Sửu.
Trong phạm vi bên trái sơn Cấn, sơn Dần và bên phải sơn Giáp, thì thuộc về sơn Dần.
Trong phạm vi bên trái sơn Giáp, sơn Mão và bên phải sơn Ất, thì thuộc về sơn Mão.
Trong phạm vi bên trái sơn Ất, sơn Thìn và bên phải sơn Tốn, thì thuộc về sơn Thìn.
Trong phạm vi bên trái sơn Tốn, sơn Tỵ và bên phải sơn Bính, thì thuộc về sơn Tỵ.
Trong phạm vi bên trái sơn Bính, sơn Ngọ và bên phải sơn Đinh, thì thuộc về sơn Ngọ.
Trong phạm vi bên trái sơn Đinh, sơn Mùi và bên phải sơn Khôn, thì thuộc về sơn Mùi.
Trong phạm vi bên trái sơn Khôn, sơn Thân và bên phải sơn Canh, thì thuộc về sơn Thân.
Trong phạm vi bên trái sơn Canh, sơn Dậu và bên phải sơn Tân, thì thuộc về sơn Dậu.
Trong phạm vi bên trái sơn Tân, sơn Tuất và bên phải sơn Càn, thì thuộc về sơn Tuất.
Trong phạm vi bên trái sơn Càn, sơn Hợi và bên phải Nhâm sơn, thì thuộc về sơn Hợi.
Sau khi xác định phạm vi của 12 chi chủ sơn, chúng ta có thể tìm kiếm trị niên lạc điểm của mỗi chủ sơn, và lúc này phải dựa vào các quy tắc hội, hợp, hình, xung của 12 địa chi (quy tắc này thuộc về học lý bát tự, ở đây chúng ta không thảo luận nguyên lý của nó, cái mà nó chủ yếu là quy tắc tương tác của địa chi, tức là một địa chi sẽ bị kích động trong bốn trường hợp này).
Hội: Khi địa chi của lưu niên và địa chi của chủ sơn là cùng một địa chi, thì đó là cái gọi là hội, lúc này chủ sơn sẽ bị kích động, là một trong những trị niên lạc điểm

Cho nên, sơn Tý sẽ được kích động vào năm Tý,
Sơn Sửu sẽ được kích động vào năm Sửu,
Sơn Dần sẽ được kích động vào năm Dần,
Sơn Mão sẽ được kích động vào năm Mão,
Sơn Thìn sẽ được kích động vào năm Thìn,
Sơn Tỵ sẽ được kích động vào năm Tỵ,
Sơn Ngọ sẽ được kích động vào năm Ngọ,
Sơn Mùi sẽ được kích động vào năm Mùi,
Sơn Thân sẽ được kích động vào năm Thân,
Sơn Dậu sẽ được kích động vào năm Dậu,
Sơn Tuất sẽ được kích động vào năm Tuất,
Sơn Hợi sẽ được kích động vào năm Hợi.
Hợp: Khi địa chi của lưu niên và địa chi của chủ sơn tạo thành góc 120 độ, thì đó là cái gọi là hợp. Lúc này chủ sơn sẽ được kích động, là trị niên lạc điểm thứ hai:

Cho nên, sơn Tý sẽ được kích động vào năm Thìn, Thân,
Sơn Sửu sẽ được kích động vào năm Tỵ, Dậu,
Sơn Dần sẽ được kích động vào năm Ngọ, Tuất,
Sơn Mão sẽ được kích động vào năm Mùi, Hợi,
Sơn Thìn sẽ được kích động vào năm Thân, Tý,
Sơn Tỵ sẽ được kích động vào năm Dậu, Sửu,
Sơn Ngọ sẽ được kích động vào năm Tuất, Dần,
Sơn Mùi sẽ được kích động vào năm Hợi, Mão,
Sơn Thân sẽ được kích động vào năm Tý, Thìn,
Sơn Dậu sẽ được kích động vào năm Sửu, Tỵ,
Sơn Tuất sẽ được kích động vào năm Dần, Ngọ,
Sơn Hợi sẽ được kích động vào năm Mão, Mùi.
Hình: Khi địa chi của lưu niên và địa chi của chủ sơn tạo thành góc 90 độ, thì đó là cái gọi là hình. Lúc này chủ sơn sẽ được kích động, là trị niên lạc điểm thứ ba:

Cho nên, sơn Tý sẽ được kích động vào năm Mão, Dậu,
Sơn Sửu sẽ được kích động vào năm Thìn, Tuất,
Sơn Dần sẽ được kích động vào năm Tỵ, Hợi,
Sơn Mão sẽ được kích động vào năm Ngọ, Tý,
Sơn Thìn sẽ được kích động vào năm Mùi, Sửu,
Sơn Tỵ sẽ được kích động vào năm Thân, Dần,
Sơn Ngọ sẽ được kích động vào năm Dậu, Mão,
Sơn Mùi sẽ được kích động vào năm Tuất, Thìn,
Sơn Thân sẽ được kích động vào năm Hợi, Tỵ,
Sơn Dậu sẽ được kích động vào năm Tý, Ngọ,
Sơn Tuất sẽ được kích động vào năm Sửu, Mùi,
Sơn Hợi sẽ được kích động vào năm Dần, Thân.

Xung: Khi địa chi của lưu niên và địa chi của chủ sơn tạo thành góc 180 độ, thì đó là cái gọi là xung. Lúc này chủ sơn sẽ được kích động, là trị niên lạc điểm thứ tư
Hình 109
Cho nên, sơn Tý sẽ được kích động vào năm Ngọ,
Sơn Sửu sẽ được kích động vào năm Mùi,
Sơn Dần sẽ được kích động vào năm Thân,
Sơn Mão sẽ được kích động vào năm Dậu,
Sơn Thìn sẽ được kích động vào năm Tuất,
Sơn Tỵ sẽ được kích động vào năm Hợi,
Sơn Ngọ sẽ được kích động vào năm Tý,
Sơn Mùi sẽ được kích động vào năm Sửu,
Sơn Thân sẽ được kích động vào năm Dần,
Sơn Dậu sẽ được kích động vào năm Mão,
Sơn Tuất sẽ được kích động vào năm Thìn,
Sơn Hợi sẽ được kích động vào năm Tỵ.
Từ những điều trên có thể thấy, mỗi chủ sơn sẽ có sáu trị niên lạc điểm, tức là sẽ có sáu năm bị kích động. Vì chu kỳ lưu niên địa chi chỉ có mười hai năm, mà thời gian bị kích động đã chiếm khoảng một nửa, nên sự ứng nghiệm cát hung sẽ trở nên rõ ràng.

Ví dụ, hiện tại là vận 8, và khí khẩu của một ngôi nhà ở phương Khảm, thì 6 năm: Tý, Mão, Thìn, Ngọ, Thân, Dậu đều sẽ có điềm báo tổn tài (tài cũng là vợ, thời nay có thể ứng vào ly hôn)
Hình 110
Ngược lại, nếu khí khẩu ở phương Ly, thì 6 năm: Ngọ, Dậu, Tuất, Tý, Dần, Mão sẽ có niềm vui tiến tài hoặc hôn sự.

Cho nên sự khác biệt về khí vận tốt xấu của hai ngôi nhà này trong vận 8 sẽ rất lớn. Chỉ đưa ra hai ví dụ này, các lý lẽ khác đều tương tự, không nói thêm nữa!
Giao tiếp Nguyên Vận tuế phù:
Trị niên lạc điểm này, ngoài việc phán đoán lưu niên xảy ra ứng sự cát hung, quan trọng nhất là liên quan mật thiết đến giao tiếp Nguyên Vận tuế phù. Bài trước đã nói, hạ Nguyên Vận 8 (theo Nhị Nguyên Bát Vận) bắt đầu từ năm Bính Tý 1996, và quan sát sự biến thiên nhân sự ở khắp nơi trên thế giới, phần lớn bắt đầu từ năm này, nhưng thực sự cũng có rất nhiều nơi không phải năm này đã giao vận, điều này là tại sao? Thực ra là do Nguyên Vận tuế phù vẫn chưa giao tiếp.
Sự chuyển đổi Nguyên Vận phải được tuế phù dẫn động, và phương pháp phán đoán tuế phù dẫn động này, lấy tọa hướng làm chủ. Cho nên, sự chuyển đổi Nguyên Vận của một địa điểm, phải đến khi trị niên lạc điểm của tọa hướng dẫn động, mới bắt đầu tiến hành giao tiếp, đặc biệt là hai trị niên lạc điểm hội và xung. Cho nên, địa điểm có tọa hướng khác nhau, điểm khởi đầu vận 8 đều không giống nhau! Ví dụ, nhà tọa Dậu hướng Mão, vận 8 phải đến năm Kỷ Mão 1999 mới giao tiếp chuyển đổi, cho nên ba năm Tý, Sửu, Dần vẫn chưa vào vận 8! Xem hình minh họa.

Từ đó có thể suy ra, hai cục Tỵ sơn Hợi hướng và Hợi sơn Tỵ hướng của vận 8, là hai cục giao vận muộn nhất trong vận, phải đến sau năm 2001 mới giao vào vận 8, độc giả nếu gặp phải hai cục này, nên lưu tâm nhiều hơn.
Biết được bí quyết này rồi, thì cũng biết những người thế tục tranh cãi về vận 8 bắt đầu từ năm 1996 hay 2004, đều là hạng người ngoài nghề! Giao tiếp tuế phù này thực sự ngàn vàng khó mua, người đời phần lớn chưa từng nghe nói đến, độc giả biết được bí quyết này, đều phải trân trọng mà giữ gìn!
Đến đây cũng đã nói rõ toàn bộ khái quát về lưu niên thái tuế pháp, phối hợp với tứ quyết đã nói ở trên mà dùng, tin rằng các độc giả từ nay có thể nắm vững hơn một nửa lục pháp, các ví dụ thực tế phía sau cần suy nghĩ nhiều hơn, tự nhiên sẽ thông suốt!
Nay vẽ bảng toàn bộ cấu trúc của Huyền Không Tam Quyết của Huyền Không Tân Truyền, hy vọng có thể giúp ích cho việc học tập của các bạn.

