Huyền Không Lục Pháp

Bài 23: Ứng dụng Thành Môn: chuyên luận Tứ Tượng Cục và phép lập hướng

Thầy Vũ Giới – phongthuylienhoa — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Bài 23: Ứng dụng Thành Môn: chuyên luận Tứ Tượng Cục và phép lập hướng

Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 23 trong loạt bài giảng Lục Pháp.

ỨNG DỤNG THÀNH MÔN:

Lục Pháp dựa trên Thư Hùng quyết để phân hình cục thành bốn đại hình cục là Tụ khí cục, Chuyên khí cục, Động khí cục và Nạp Khí Cục, trong đó lại chia thành nhiều tiểu cục để thuận tiện cho việc sử dụng định cục lập hướng sau này. Trong thực tế, nguyên tắc lập hướng

của Thành Môn Quyết thực ra chỉ có ba loại là Sơn long cục, Thủy long cục và Tạp cục, nhưng để đáp ứng các đặc tính khác nhau của từng loại hình cục, tạo tác pháp mà chúng ta sử dụng có những trọng điểm khác nhau.

Trong các bài học tiếp theo, chúng ta sẽ nói về một loại phương pháp Thành Môn Quyết khác của Nạp Khí Cục, đó chính là phương pháp thực sự của Thành môn quyết Tứ tượng cục mà mọi người quan tâm. Rốt cuộc, Tứ Tượng Cục nên dựa vào Thành môn lập hướng như thế nào? Câu trả lời này, xin hãy lắng nghe tôi từ từ giải thích!

Chuyên luận Tứ tượng cục:

Trước hết, chúng ta hãy xem ví dụ minh họa của Tứ Tượng Cục:

Chú giải sơ đồ Tứ Tượng Cục

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa

Thái cực

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa

Lưỡng Nghi

Tứ Tượng

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa
Vì hình cục của nó là một vùng đất thực địa mở ra một góc trống chín mươi độ rất hoàn chỉnh, nếu theo phương pháp lập hướng Lưỡng nghi cục đã được giảng dạy trước đó, thì phải lấy đường trung tâm của hai phần trống và thực để lập hướng, tức là ý nói phải lập hướng chính diện với lỗ hổng của cục!

Thực sự là như vậy sao? Đương nhiên là không! Nếu lập hướng như vậy, sẽ phạm phải sát khí (tiêm giác sát) mà không tự biết, chắc chắn chưa cầu được phúc thì họa đã ập đến!

Hãy nhớ rằng! Trong phong thủy, tránh hung nhất định phải ưu tiên hơn hướng cát, từ đó có thể biết đối với các địa hình khác nhau, tuyệt đối không được dùng cùng một phương pháp để lấy dùng!

Vậy thế nào mới là phương pháp lập hướng thực sự của Tứ Tượng Cục?

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa
Theo lý tắc không (trống) là dương, thực là âm, sinh khí trong Tứ Tượng Cục này chắc chắn sẽ ngưng tụ ở chỗ giao nhau giữa không và thực trong góc trống của nó, như hình vẽ có thể thấy, đặc biệt là càng gần góc trống thì sinh khí ngưng tụ càng nhiều!

Việc lập hướng của Thành Môn Quyết là để thu nạp sinh khí trong hình cục mà dùng. Do đó, phương pháp lập hướng của Tứ Tượng Cục, cần phải tiến gần đến chỗ góc trống tụ tập sinh khí trong cục này, dựa theo tình trạng phân bố của chỗ Không và chỗ Thực, tìm kiếm phần hai mảnh trống và đầy đối lập rất hoàn chỉnh trong cục để lập hướng, mới là phương pháp lập hướng chân chính. Nói cách khác, phải ngồi chính giữa đường trung tâm của hai mảnh trống và đầy trong góc trống này, mới là phương pháp lập hướng thành môn tứ tượng cục chân chính! Mời xem hình minh họa.

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa
Ví dụ: như Ví dụ 1 trong tập 1 ở chương Nhập Môn chính là lập hướng thu khí như vậy.

Quan sát hình vẽ có thể thấy rõ, ví dụ này toàn bộ hình cục mở ra một góc trống 90 độ hoàn chỉnh từ Mão đến Ngọ, có thể biết sinh khí trong cục này ngưng tụ ở ngã tư đường (đỉnh góc trống). Mà theo như đã nói trước, chúng ta cần tìm ra phần hai mảnh trống và đầy

đối lập rất hoàn chỉnh trong cục để lập hướng, mới là phương pháp lập hướng thành môn tứ tượng cục chân chính. Cục này chính là phải tọa Tý hướng Ngọ hoặc tọa Ngọ hướng Tý mới đúng (tất nhiên tọa Dậu hướng Mão hoặc tọa Mão hướng Dậu cũng được, chúng ta ở đây tạm thời đơn giản hóa vấn đề nhé!), đặc biệt là những căn nhà càng gần ngã tư đường càng tốt.

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa

Vậy thì phải tọa Tý hướng Ngọ hay là tọa Ngọ hướng Tý đây? Cũng phải dùng quy tắc Giáp cục thành môn quyết là Long Giang Nam đến vọng Giang Bắc; Long Giang Tây đi vọng Giang Đông để quyết định. Cục này phương Tý là đất thực còn phương Ngọ là chỗ Không, cho nên phải lấy chỗ thực làm vị trí lai long, mà lai long ở sơn Tý, cái mà nó thu nạp là quẻ Khảm đại (lai long Giang Bắc), cho nên phải hướng sơn Ngọ thu nạp quẻ Ly đại (vọng Giang Nam) để thu khí, đây chính

là cục pháp Thủy Hỏa bất tương xạ, cũng chính là chân pháp Thành Môn Quyết của Tứ Tượng Cục! (Cho nên cục này cũng lấy tọa Dậu hướng Mão làm chính dụng, vì lai long ở sơn Dậu vậy!)

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa
Chỉ là vì khí khẩu của cục này ở quẻ Tốn, nên phải ở vận nhị tứ thất cửu mới có thể dùng được, nếu ở vận nhất tam lục bát dùng thì dù có được sức mạnh của thành môn quyết Tứ Tượng Cục cũng chỉ được bình thuận mà thôi, điểm này ngàn vạn lần không thể không biết!

Từ những luận thuật trên, có thể rút ra các kết luận sau:

  1. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Tý đến Mão, thì cần lập hướng về Tý hoặc Mão mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  2. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Quý đến Ất, thì cần lập hướng về Quý hoặc Ất mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  3. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Sửu đến Thìn, thì cần lập hướng về Sửu hoặc Thìn mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  4. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Cấn đến Tốn, thì cần lập hướng về Cấn hoặc Tốn mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  5. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Dần đến Tỵ, thì cần lập hướng về Dần hoặc Tỵ mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  6. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Giáp đến Bính, thì cần lập hướng về Giáp hoặc Bính mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  7. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Mão đến Ngọ, thì cần lập hướng về Mão hoặc Ngọ mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  8. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Ất đến Đinh, thì cần lập hướng về Ất hoặc Đinh mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  9. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Thìn đến Mùi, thì cần lập hướng về Thìn hoặc Mùi mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  10. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Tốn đến Khôn, thì cần lập hướng về Tốn hoặc Khôn mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  11. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Tỵ đến Thân, thì cần lập hướng về Tỵ hoặc Thân mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  12. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Bính đến Canh, thì cần lập hướng về Bính hoặc Canh mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  13. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Ngọ đến Dậu, thì cần lập hướng về Ngọ hoặc Dậu mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  14. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Đinh đến Tân, thì cần lập hướng về Đinh hoặc Tân mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  15. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Mùi đến Tuất, thì cần lập hướng về Mùi hoặc Tuất mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  16. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Khôn đến Càn, thì cần lập hướng về Khôn hoặc Càn mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  17. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Thân đến Hợi, thì cần lập hướng về Thân hoặc Hợi mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  18. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Canh đến Nhâm, thì cần lập hướng về Canh hoặc Nhâm mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  19. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Dậu đến Tý, thì cần lập hướng về Dậu hoặc Tý mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  20. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Tân đến Quý, thì cần lập hướng về Tân hoặc Quý mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

  21. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Tuất đến Sửu, thì cần lập hướng về Tuất hoặc Sửu mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  22. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Càn đến Cấn, thì cần lập hướng về Càn hoặc Cấn mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  23. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Hợi đến Dần, thì cần lập hướng về Hợi hoặc Dần mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 2, 4, 7, 9.

  24. Nếu góc trống của một khu đất mở ra một góc 90 độ từ Nhâm đến Giáp, thì cần lập hướng về Nhâm hoặc Giáp mới chính xác, và chỉ có thể sử dụng trong các vận 1, 3, 6, 8.

Trong các Tứ Tượng Cục, cục Tý Ngọ Mão Dậu với khí khẩu nằm ở bên trái được xem là thượng phẩm, vì cục này còn kết hợp được với Huyền không đại quái theo nguyên tắc Hà Lạc thông khí. (Đoạn này nên kết hợp với hình ảnh minh họa để dễ hiểu hơn).

2 7

3 8

5 0

4 9

1 6

4

9

2

3

5

7

8

1

6

Hà Lạc thông khí

Từ khoá: bài 23 ứng dụng · ["huyền không lục pháp" · "huyền không lục pháp chân truyền" · "phongthuylienhoa" · "thầy vũ giới" · "dương công cổ pháp"

Bài viết liên quan

Bình luận

để gửi bình luận.