Bài 20: Ứng dụng Huyền Không: phép Lập Cực trong dương trạch và âm trạch
Thầy Vũ Giới – phongthuylienhoa — Phong Thuỷ Liên Hoa
Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 20 trong loạt bài giảng Lục Pháp.
ỨNG DỤNG HUYỀN KHÔNG: LẬP CỰC
Hai chữ Huyền Không từ xưa đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau.
Chúng ta tạm không bàn đến ai đúng ai sai, mà hãy xem cách giải thích
trong Khang Hy Tự Điển:
Huyền:Nguồn gốc: Trong văn tự kim văn, chữ Huyền giống hình sợi tơ,
nghĩa gốc là treo lơ lửng.
Giải nghĩa:(Tính) Màu đen.// (Tính) Màu đỏ đen.// (Tính) Tối, bóng
tối. // (Tính) U huyền, xa xôi.//(Tính) Huyền diệu, thâm sâu, thần
kỳ.
// (Danh) Đạo lý huyền diệu hư vô của Đạo gia. Huyền học. Không:
Nguồn gốc: Chữ Không là hình thanh, Huyệt là hình, Công là thanh,
nghĩa gốc là lỗ hổng, hang động.
Giải nghĩa: (Tĩnh) Không có gì, trống rỗng.// (Động) Tiêu hao, làm
cho trống rỗng.//(Tính) Trống rỗng, không thực tế.//(Phó) Vô ích.
//(Danh) Bầu trời.
Từ đó có thể thấy, Huyền là bóng tối, thuộc Âm, còn Không là hư
không, thuộc học trò trong nhóm nghiên cứu. Do đó, Huyền Không thực chất
là tên gọi khác của Âm học trò trong nhóm nghiên cứu, và Huyền Không học
chính là Âm học trò trong nhóm nghiên cứu học, một phần của Dịch
học!
Vậy tại sao tổ sư lại dùng Huyền Không thay vì Âm học trò trong nhóm
nghiên cứu? Thực chất, điều này ẩn chứa bí mật lớn của Huyền Không học,
nhằm để lại cho hậu nhân cơ hội diễn kinh chứng quyết. Trong đó bao gồm
hai phần tâm pháp chính: Lý khí và Hình thế.
Phần Lý Khí:
Phần Hình Thế:
Huyền là bóng tối, thuộc Âm, Không là hư không, thuộc học trò
trong nhóm nghiên cứu. Do đó, Huyền Không chỉ điểm giao nhau giữa Âm và
học trò trong nhóm nghiên cứu, tức là Thái Cực điểm.
Dịch nói: Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ
Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái định cát hung. Điều này cho thấy cát hung
xuất phát từ Thái Cực. Do đó, chỉ khi Thái Cực được xác định, thì Lưỡng
Nghi, Tứ Tượng... mới có thể sinh ra, và cát hung mới có thể định
được.
Lập Cực trong thực tế:
Thái Cực điểm trong thực tế phong thủy còn được gọi là Lập Cực điểm,
là nơi đặt la bàn để đo đạc dữ liệu. Có nhiều phương pháp lập cực khác
nhau, như lập cực theo cửa chính, ban công, hoặc theo đại cục bên ngoài.
Tuy nhiên, theo truyền thừa Huyền Không, Lập Cực điểm được chia thành
hai loại chính:
Khí Tâm Lập Cực: Là phương pháp lập cực theo cửa
chính, nơi giao nhau giữa khí bên ngoài (dương) và khí bên trong
(âm).
Hình Tâm Lập
Cực: Là phương pháp lập cực dựa trên hình thế xung quanh.
Sau khi xác định được điểm thái cực, thì lưỡng nghi, tứ tượng, bát
quái... liền từ dưới chân xuất ra, mà sự khác biệt giữa lành dữ hối tiếc
liền tự có thể phân biệt được!
Phương pháp khí tâm lập cực này có công dụng cực kỳ rộng rãi, phàm
các pháp tam hợp, cửu tinh, long môn, tử bạch, phi tinh... đều lấy đây
làm chuẩn, mà việc thu nạp khí của lục pháp cũng lấy đây làm một trong
những yếu điểm!
Hình tâm lập cực:
Mà cái gọi là hình tâm lập cực thì là diệu pháp mà thế tục chưa từng
nghe nói đến, không phải người thực sự được truyền thừa thì không thể
biết được? Đây là kinh nghiệm nhãn quang được ngưng tụ từ tổ sư huyền
không ngàn đời nay, là đại pháp xem âm dương chân truyền của học trò
trong nhóm nghiên cứu Công!
Phương pháp này thực ra chúng ta đã đề cập một hai trong chương nhập
môn giải bí, chỉ là chưa giải thích chi tiết những điểm mấu chốt bên
trong, cơ duyên hôm nay đã đến, hãy cùng chúng ta xem kỹ những điều
huyền diệu ẩn chứa bên trong đó!
Cái gọi là hình tâm lập cực thực ra rất đơn giản, chúng ta đã nói
rằng núi non lầu nhà... những chỗ thực là âm chủ âm chất, mà sông
nước đường đi... những chỗ không là dương chủ dương khí, cho nên theo
lý triết huyền không mà suy luận, thì cái gọi là hình tâm tức là chỉ chỗ
giao tiếp đầu tiên giữa chỗ thực (âm chất) và chỗ không (dương khí) của
một ngôi nhà, vì vậy phải đặt la kinh ở chỗ này mới thực sự phù hợp với
yếu luận của huyền không.
Ví dụ như hình minh họa, lưỡng nghi cục là một mảng thực và một mảng
không, cho nên hình tâm của nó nằm ở chỗ giao nhau giữa không gian thực
và không gian trống bên ngoài ngôi nhà, phải đặt la bàn ở chỗ này mới có
thể hiểu rõ sự khác biệt trong việc thu nạp khí của cục diện.
Ví dụ như hình minh họa, Tứ
Tượng Cục được tạo thành bởi một góc trống 90 độ mở ra từ một mảng thực,
cho nên hình tâm của nó nằm ở chỗ giao nhau giữa không gian thực và
không gian trống bên ngoài ngôi nhà, phải đặt la bàn ở chỗ này mới có
thể hiểu rõ sự khác biệt trong việc thu nạp khí của cục diện. (Nên xem
kỹ các hình minh họa của cục diện này để tự mình ngộ ra).
Ví dụ như bát quái cục được tạo thành bởi một góc trống 45 độ mở ra
từ một mảng thực hình quạt, cho nên hình tâm của nó nằm ở chỗ
giao nhau giữa không gian thực và không gian trống bên ngoài ngôi
nhà, phải đặt la bàn ở chỗ này mới có thể hiểu rõ sự khác biệt trong
việc thu nạp khí của cục diện.
Lại như hình minh họa, đại quái cục được tạo thành bởi một góc trống
15 độ mở ra từ một mảng thực, cho nên hình tâm của nó nằm ở chỗ giao
nhau giữa không gian thực và không gian trống bên ngoài ngôi nhà, phải
đặt la bàn ở chỗ này mới có thể hiểu rõ sự khác biệt trong việc thu nạp
khí của cục diện. (Nên xem kỹ các hình minh họa của cục diện này để tự
mình ngộ ra)
Từ những điều trên có thể thấy, phương pháp hình tâm lập cực này biến
hóa vô cùng, nhưng lý lẽ của nó lại không có gì khác biệt! Tuy nhiên,
nếu ta không vạch trần nó, thì có được mấy người nhận ra!
Hai phương pháp khí tâm lập cực và hình tâm lập cực này, trong luận
bàn về thu nạp khí của lục pháp, thực sự là vô cùng quan trọng