Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 19 trong loạt bài giảng Lục Pháp.
THANH NANG ÁO NGỮ CHI TAM
Nhị thập tứ sơn phân ngũ hành, tri đắc vinh khô tử dữ sinh. Phiên thiên đảo địa đối bất đồng; kỳ trung bí mật tại Huyền Không.
Từ đoạn này trở đi, chúng ta sẽ đi vào trọng tâm của Thủy Long Thành Môn Quyết. Hãy cùng nhau nghiên cứu nhé!
Ngũ hành và phiên thiên đảo địa đều liên quan đến bí mật lớn nhất trong truyền thừa – Huyền Không Đại Quái (tham khảo Thanh Nang Tự). Khi đã nắm được Huyền Không Đại Quái, việc phân biệt sự vinh khô (thịnh suy) và tử sinh (chết sống) của một vùng đất sẽ không còn là bí mật nữa.
Nhận long lập huyệt yếu phân minh, tại nhân tử tế biện thiên tâm.
Thiên tâm ký biện huyệt hà nan, đãn bả hướng trung phóng thủy khan.
Tùng ngoại sinh nhân danh vi tiến, định tri tài bảo tích như sơn.
Tùng nội sinh xuất danh vi thoái, gia nội tiền tài giai tận phí. Sinh nhân khắc nhập danh vi vượng, tử tôn cao quan tận phú quý.
Đối với Thủy Long, yêu cầu về hình thế không nhiều như Sơn Long, mà trọng tâm lại đặt vào lý khí. Điều này thể hiện nguyên lý tự nhiên: Thủy thuộc dương, động; Sơn thuộc âm, tĩnh.
Trong lý khí của Thủy Long, điểm quan trọng nhất là nhận long. Theo phương pháp Thủy đối tam xa tế nhận tung (tham khảo Thanh Nang Tự), thủy khẩu đối cung chính là vị trí của lai long. Do đó:
Thủy khẩu ở Ly, thì lai long ở Khảm.
Thủy khẩu ở Khảm, thì lai long ở Ly.
Thủy khẩu ở Khôn, thì lai long ở Cấn.
Thủy khẩu ở Cấn, thì lai long ở Khôn.
Thủy khẩu ở Đoài, thì lai long ở Chấn.
Thủy khẩu ở Chấn, thì lai long ở Đoài.
Thủy khẩu ở Càn, thì lai long ở Tốn.
Thủy khẩu ở Tốn, thì lai long ở Càn.
|
|
|
|---|---|---|
|
|
|
|
|
|
Nhận biết được lai long rồi, sau đó dựa vào pháp quyết tiên hậu thiên tương thông tiên thiên lai long hậu thiên hướng, hậu thiên lai long tiên thiên hướng để lập hướng (tham khảo Thanh nang tự), cho nên: Lai long ở Càn, thì lập hướng phải hướng về Cấn hoặc hướng Ly để thu khí.
Lai long ở Khôn, thì lập hướng phải hướng về Tốn hoặc hướng Khảm để thu khí.
Lai long ở Cấn, thì lập hướng phải hướng về Càn hoặc hướng Chấn để thu khí.
Lai long ở Tốn, thì lập hướng phải hướng về Khôn hoặc hướng Đoài để thu khí.

Hình 57: Ngoại Tiên thiên, nội Hậu thiên bát quái
Lai long ở Ly, thì lập hướng phải hướng về Chấn hoặc hướng Càn để
thu khí.
Lai long ở Khảm, thì lập hướng phải hướng về Đoài hoặc hướng Khôn để thu khí.
Lai long ở Đoài, thì lập hướng phải hướng về Khảm hoặc hướng Tốn để thu khí.
Lai long ở Tốn, thì lập hướng phải hướng về Khôn hoặc hướng Đoài để thu khí.
Lai long ở Chấn, thì lập hướng phải hướng về Ly hoặc hướng Cấn để
thu khí.
Sau khi hiểu rõ phương pháp nhận long lập huyệt này, khi sử dụng nhất định phải xác định nguyên vận (thiên tâm) có chính xác hay không, tức là phải xác định kim long động hay không? Một khi đã xác định Kim Long sắp xếp đến thủy khẩu có động, thì lập hướng còn có khó khăn gì nữa?
- Tuy nhiên, do thủy long không giống như sơn long, có thể dùng la thành chu mật để tụ khí, cho nên ngoài pháp tắc tiên hậu thiên tương thông đã nói ở trên, để thu hết sinh khí của thủy long, còn phải dùng pháp sinh nhập khắc nhập để phân biệt hướng trung (xuất hướng) và phóng thủy (thủy khẩu), như vậy mới là bước hoàn chỉnh!
Chúng ta thử lấy ví dụ khi thủy khẩu ở Tốn, lai long từ Càn đến, thì phải hướng về Cấn để thu khí để minh họa, vì đã xem xét nguyên tắc tịnh (tham khảo Thanh nang tự), cho nên chỉ có ba khả năng lập hướng sau đây mà thôi, tức là thủy khẩu ở Thìn thì phải hướng về Sửu sơn thu khí, thủy khẩu ở Tốn thì phải hướng về Cấn sơn thu khí, thủy khẩu ở Tỵ thì phải hướng về Dần sơn thu khí.

Theo nguyên tắc Hà Lạc tương thông:
Số 1 và 6 thuộc Ngũ Hành là Thủy. Số 2 và 7 thuộc Ngũ Hành là Hỏa. Số 3 và 8 thuộc Ngũ Hành là Mộc.
Số 4 và 9 thuộc Ngũ Hành là Kim. Số 5 và 10 thuộc Trung ương Thổ, thường không dùng.
Do đó:
Thìn Sơn thuộc Kim Thủy. Tốn Sơn thuộc Mộc. Tỵ Sơn thuộc Hỏa. Sửu Sơn thuộc Mộc. Cấn Sơn thuộc Kim. Dần Sơn thuộc Thủy Hỏa. Phân tích cụ thể:
- Thủy khẩu tại Thìn, hướng Sửu:
Thủy khẩu (Thìn) thuộc Kim Thủy. Hướng (Sửu) thuộc Mộc. Kim Thủy sinh Mộc: Đây là sinh nhập khắc nhập, đại cát, có thể sử dụng.
- Thủy khẩu tại Tốn, hướng Cấn:
Thủy khẩu (Tốn) thuộc Mộc. Hướng (Cấn) thuộc Kim. Kim khắc Mộc: Đây là khắc xuất, không thể sử dụng.
- Thủy khẩu tại Tỵ, hướng Dần:
Thủy khẩu (Tỵ) thuộc Hỏa. Hướng (Dần) thuộc Thủy. Thủy khắc Hỏa: Đây cũng là khắc xuất, không thể sử dụng.
Kết luận: Trong cục này, chỉ có hướng Sửu Sơn là có thể sử dụng. Ý nghĩa của Tiến và Thoái:
Khi hướng trung (hướng ra) và phóng thủy (thủy khẩu) tạo thành cấu trúc sinh nhập khắc nhập, gọi là tiến, chủ về phát tài lộc và quan quý.
Khi hướng trung và phóng thủy tạo thành cấu trúc sinh xuất khắc xuất, gọi là thoái, chủ về hao tán tài sản và mất quan vị.
Sự khác biệt giữa tiến và thoái là rất lớn. Do đó, khi sử dụng phép Huyền Không để tạo tác, cần hết sức thận trọng!
Mạch tức sinh vượng yếu tri nhân, long yết mạch hàn tai họa xâm; Túng hữu tha sơn lai cứu trợ, không lao lộc mã hộ long hành.
Đoạn này nhấn mạnh lại tầm quan trọng của việc biện thiên tâm. Nó nhắc nhở rằng, nếu muốn sử dụng phép sinh nhập khắc nhập để thu khí tạo phúc, trước tiên phải phân biệt được lai long có đúng thời sinh vượng hay không. Nếu lai long thất lệnh, hưu tù, thì tạo tác sẽ dẫn đến tai họa ngay lập tức!
Dù có dùng Cửu Tinh Pháp để thu được vượng sơn hỗ trợ, hoặc dùng Tam Hợp Pháp để có lộc mã quý nhân hộ vệ, cũng chỉ là uổng công vô ích!
Khuyến quân tái bả tinh thần biện, cát hung họa phúc như thần kiến; Thức đắc thử thiên chân diệu vi, hựu kiến Quách Phác tái xuất hiện.
Đoạn cuối cùng này, học trò trong nhóm nghiên cứu Công hy vọng rằng các hậu học phải suy ngẫm và phân biệt kỹ lưỡng Huyền Không Đại Quái. Khi đó, cát hung của một vùng đất sẽ hiển hiện rõ ràng như có thần linh phán đoán. Khi các bạn thực sự thấu hiểu được bí ẩn của Thanh Nang Áo Ngữ, công lực sẽ đạt đến cảnh giới của tổ sư Quách Phác!
Ứng dụng Lục Pháp
Trong Nhập Môn Giải Bí Thiên, chúng ta đã thảo luận nhiều về những bí mật không truyền ra ngoài của Lục Pháp. Tuy nhiên, hiểu lý thuyết là một chuyện, áp dụng vào thực tế lại là một khoảng cách rất lớn, đặc biệt là trong các khu đô thị hiện đại và khu nhà tập thể với hình thái phức tạp và đa dạng, khiến người ta dễ bị rối loạn, không xác định được trọng tâm và hướng đi.
Tuy nhiên, dù hình thức bên ngoài của các công trình có khác biệt đến đâu, nguyên lý ẩn chứa bên trong vẫn hoàn toàn nhất quán. Chỉ
cần nắm vững lý thuyết của Lục Pháp, mọi biến hóa của hình thế đều không thể thoát khỏi nhãn quang của chúng ta. Đây cũng chính là cảnh giới cao nhất mà Dịch gọi là dĩ giản ngự phồn (lấy đơn giản trị phức tạp).
Vì vậy, từ Chúng ta hãy cùng nhau đi sâu vào các quy tắc ứng dụng của Lục Pháp từ góc độ thực tiễn!