Huyền Không Lục Pháp

Bài 18: Thanh Nang Áo Ngữ chi nhị: Kim Long, Minh đường thập tự và chín khẩu quyết

Thầy Vũ Giới – phongthuylienhoa — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Bài 18: Thanh Nang Áo Ngữ chi nhị: Kim Long, Minh đường thập tự và chín khẩu quyết

Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 18 trong loạt bài giảng Lục Pháp.

THANH NANG ÁO NGỮ CHI NHỊ

Điên điên đảo, nhị thập tứ sơn hữu châu bảo, Thuận nghịch hành, nhị thập tứ sơn hữu hỏa khanh.

Từ đoạn này trở đi, chúng ta sẽ đi vào trọng tâm của Sơn Long Thành Môn Quyết. Hãy cùng nhau nghiên cứu nhé!

Điên điên đảo ở đây ám chỉ việc trừu hào hoán tượng, tức là nói đến bí bảo của Huyền Không – Huyền Không Đại Quái (tham khảo phần giải thích trong Thanh Nang Tự). Nghĩa là trong 24 sơn của Chu Thiên đều ẩn chứa khí của Huyền Không Đại Quái. Nếu có thể sử dụng được khí của Huyền Không Đại Quái này thì sẽ phát phúc vô cùng lớn, do đó được ví như châu bảo.

Tuy nhiên, châu bảo này không dễ dàng có được. Tại sao? Bởi vì khí của Huyền Không Đại Quái có sự biến hóa thuận nghịch khác nhau. Ở đây, thuận nghịch chính là ý chỉ Nguyên Tinh Linh Chính (tham khảo phần giải thích trong Thanh Nang Tự). Do đó, có thể thấy rằng nếu khí của Huyền Không Đại Quái trong 24 sơn bị dùng sai, dẫn đến linh chính điên đảo, thì không những không được châu bảo, mà ngược lại sẽ trở thành hỏa khanh, lập tức gây tai họa! Vì vậy, nếu muốn sử dụng Huyền Không Đại Quái để tạo phúc, há không nên thận trọng hay sao? Đó cũng là lý do học trò trong nhóm nghiên cứu Công tiếp tục với phần luận thuật về nhận Kim Long ở phần sau.

Nhận Kim Long, nhất kinh nhất vĩ nghĩa bất cùng.

Nhận Kim Long ở đây chính là phân biệt linh chính (tham khảo phần giải thích trong Thanh Nang Tự). Tuy nhiên, việc phân biệt linh chính trong Thanh Nang Tứ Thư lại không được nói rõ ràng, khiến người đời sau thậm chí nghi ngờ về sự tồn tại của Kim Long Linh Chính. Thực chất, đây là do nhầm lẫn giữa thư quyết và pháp quyết. Hãy nhớ rằng, kinh văn được lưu lại để người đời sau có thể diễn kinh chứng quyết, do đó pháp quyết há có thể viết rõ ràng trong kinh văn? Vì vậy, nếu muốn tìm quyết từ kinh văn, chẳng khác nào duyên mộc cầu ngư (leo cây tìm cá)!

Tuy nhiên, dù kinh văn không nói rõ, nhưng vẫn để lại ám ngữ để chứng minh. Mấu chốt nằm ở câu nhất kinh nhất vĩ nghĩa bất cùng. Trong đó, chữ kinh chỉ đường thẳng Nam-Bắc, chữ vĩ chỉ đường thẳng Đông-Tây, còn nghĩa bất cùng có nghĩa là biến hóa vô cùng. Do đó, câu này dịch thẳng nghĩa là: Kim Long sẽ di chuyển giữa hai đường Nam-Bắc và Đông-Tây, biến hóa vô cùng vô tận.

Chúng ta hãy xem đường Nam - Bắc (Ly - Khảm): Theo phép Kim Long Quyết:

  • Vận 1, Kim Long ở Ly, do đó Ly Nam là linh thần mà Khảm Bắc là chính thần.

  • Vận 2, Kim Long ở Khôn, do đó Ly Nam là chính thần mà Khảm Bắc là linh thần.

  • Vận 3, Kim Long ở Đoài, do đó Ly Nam là chính thần mà Khảm Bắc là linh thần.

  • Vận 4, Kim Long ở Tốn, do đó Ly Nam là chính thần mà Khảm Bắc là linh thần.

Bạn có nhận ra không? Theo sự luân chuyển của nguyên vận, Linh Thần sẽ thay đổi qua lại giữa Ly Nam và Khảm Bắc. Vận này ở Ly Nam, vận tiếp theo nhất định sẽ ở Khảm Bắc, vận tiếp theo nữa lại quay về Ly Nam. Sự biến hóa tuần hoàn không ngừng của Linh Thần này chính là ý nghĩa thực sự của câu (Kim Long) nghĩa bất cùng. Xem hình minh họa sẽ dễ hiểu hơn.

9

5

7

8

1

3

4

6

2

3

7

5,

4

2

9

8

6

1

Vận 1 Vận 2

2

7

9

1

3

5

6

8

4

5

9

7

6

4

2

1

8

3

Vận 3 Vận 4

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

Cũng theo nguyên lý đó, đường Chấn Đông Đoài Tây cũng tương tự như vậy. Vận 1, Kim Long ở Ly, do đó chấn đông là chính thần mà

đoài tây là linh thần. Vận 2, Kim Long ở Khôn, do đó chấn đông là

linh thần mà đoài tây là chính thần. Vận 3, Kim Long ở Đoài, do đó chấn đông là chính thần mà đoài tây là linh thần. Vận 4... cũng tương tự, theo sự luân chuyển của nguyên vận, Linh Thần sẽ thay đổi qua lại giữa chấn đông và đoài tây. Vận này ở chấn đông, vận tiếp theo nhất định sẽ ở đoài tây, vận tiếp theo nữa lại quay về chấn đông. Đây mới chính là ý nghĩa thực sự của câu nhất kinh nhất vĩ nghĩa bất cùng trong kinh văn!

Nếu không hiểu Kim Long quyết, làm sao có thể biết được? Từ đó có thể thấy, những quan niệm cho rằng linh thần luôn thuận hành, với thượng nguyên 1, 2, 3, 4 là chính thần và 6, 7, 8, 9 là linh

thần, hạ nguyên 1, 2, 3, 4 là linh thần và 6, 7, 8, 9 là chính thần, thực chất chỉ là những phỏng đoán mù quáng của những người không được truyền thụ chân truyền, cách xa đạo lý thực sự!

Từ đó cũng có thể thấy, tâm huyết của tiền nhân khi để lại kinh văn. Nếu không có kinh văn để chứng minh quyết, thì chân quyết chắc chắn đã bị thất truyền trong dòng chảy lịch sử. Vì vậy, chúng ta là hậu học há không nên càng thêm dụng tâm, để phát huy và quảng bá thuật này hay sao!

Động hay không động, phải đợi cao nhân thi diệu dụng. Nhận biết được vị trí của Kim Long vẫn chưa đủ để tận dụng được công dụng của châu bảo. Phải đợi đến khi Kim Long này động, thì mới có thể mang lại phúc lợi cho chúng ta. Đây cũng chính là lý lẽ trong Thanh Nang Tự: Tiên khán Kim Long động bất động.

Mà sự động hay không động của Kim Long này, đều cần phải thực sự hiểu được chân quyết của Huyền Không mới có thể nắm được diệu dụng. Đây chính là nhấn mạnh hiệu quả của Thành Môn Quyết!

Tuy nhiên, thuật phong thủy của người xưa chủ yếu lấy cục tụ khí làm trọng tâm, do đó yêu cầu về hình thế rất nghiêm ngặt. Đúng như câu nói: Loan đầu bất chân, lý khí vô dụng. Nếu hình thế không tốt, thì Thành Môn Quyết cũng không có đất dụng võ (đây là nói trong trường hợp cục tụ khí). Do đó, phần sau mới bàn luận về thập toàn tác pháp.

Nghĩa thứ nhất, phải biết long thân hành và chỉ.

Tục ngữ có câu: Lý khí không có sách chân chính, loan đầu không có quyết giả, dường như hình thế đơn giản hơn so với quy tắc lý khí. Nhưng có thực sự như vậy không?

Có người nhầm lẫn việc nghênh tống với long hổ, có người chỉ thấy núi non trùng điệp trước mắt mà không nhận ra phía sau trống rỗng, có người vướng vào tiên mệnh, quái tuyến mà lệch khỏi chính hướng minh đường, đầy rẫy những trường hợp như vậy! Dẫn đến việc thúc phúc không thành mà tai họa lại đến trước, nhiều như lông mao!

Vậy, hình thế thực sự có đơn giản không?

Trả lời: Đơn giản! Nếu bạn thực sự nhìn hiểu được!

Tuy nhiên, hình thế có thực sự quan trọng không?

Trả lời: Quan trọng! Hình thế không chân chính, lý khí ắt sẽ giả! Hãy thử hỏi, nếu không có gạo, làm sao có thể nấu được cơm? Một vùng đất nếu không có huyệt kết, làm sao có thể thu khí để sử dụng cho mình được!

Do đó, trong truyền thừa của Huyền Không, các tổ sư đã quy tắc hình thế vào nhãn quyết, điều này thực sự có căn cứ. Vì vậy, những người học Lục Pháp như chúng ta tuyệt đối không được thiên lệch về một phía. Tuy nhiên, việc học hình thế thực sự khó khăn hơn so với việc học lý khí. Quy tắc lý khí một khi được truyền thừa và chỉ điểm, có thể lập tức đột phá mà bay cao. Còn quy tắc hình thế, ngoài việc phải được chân truyền mở mắt, còn cần phải thực địa nhiều lần để tham khảo và suy ngẫm, mới có thể thể ngộ được diệu dụng của nó. Do đó, hình thế tuy không có quyết giả, nhưng cũng thực sự không có con đường tắt nào để đi!

Tốt! Bây giờ chúng ta hãy cùng xem qua bài Thập Toàn Tác Pháp

này nhé!

Người xưa nói: Thiên lý lai long chỉ kết đến đầu một huyệt, do đó, việc đầu tiên trong tầm long điểm huyệt chính là tìm được vị trí của long đầu. Khi tìm được long đầu, thì cách huyệt vị cũng không xa.

Vậy làm thế nào để tìm được long đầu này? Đầu tiên chính là phải phân biệt được sự hành và chỉ của long thân. Nơi long thân dừng lại chính là vị trí của long đầu huyệt trường. Mà phương pháp để phân biệt sự hành và chỉ của long thân chính là hai chữ quan thủy. Thủy hành thì long hành, thủy chỉ thì long cũng chỉ!

Do đó, chỉ cần nơi nào có thủy tụ, thủy giao, thủy hội, thủy nhiễu, thủy hồi, thủy khóa, thì đó chính là nơi long thân dừng lại, mới có thể kết huyệt. Nếu nơi nào không có thủy tụ, thủy giao, thủy hội, thủy nhiễu, thủy hồi, thủy khóa, thì long thân vẫn đang hành, tuyệt đối không thể kết huyệt tại đó được!

Hành Long

Chi Long

Đệ nhất ngôn, Lai mạch minh đường bất khả thiên.

Sau khi tìm được long chỉ (nơi long dừng lại), tiếp theo cần xem xét toàn bộ lai mạch chi cước (các nhánh của long mạch) và minh đường chúng sa (các sa bao quanh minh đường) có bao bọc lấy vị trí này hay không. Nếu có sự lệch hướng, thì có thể đã nhận sai long đầu hoặc đây chỉ là hư hoa giả huyệt (huyệt giả, không thực)!

Hai hình minh họa sau đây, một là lai long thuận kết (long thuận), một là hồi long nghịch kết (long nghịch). Tuy nhiên, dù là thuận kết hay nghịch kết, hãy chú ý xem! Toàn bộ lai mạch chi cước và minh đường chúng sa đều bao bọc lấy vị trí này, không có bất kỳ chỗ nào lệch ra ngoài. Chỉ khi được bao bọc nhiều tầng như vậy, sinh khí trong cục mới có thể tụ lại mà không bị thoát, và huyệt mới có thể kết được!

Trung đường

Nội đường

Thuận kết

Trung đường

Nội đường

Nghịch kết

Khẩu quyết thứ ba, truyền tống công tào chớ cao áp.

Truyền tống công tào là chỉ đám cát đá hộ tống long thân đi đến huyệt điểm, toàn bộ lai mạch chi cước và nô bộc này, đây là nơi đám nô lệ, ngoại thích, hoạn quan làm loạn quốc gia, dù phạm vi vẫn có kết huyệt, cũng vạn vạn không thể dùng nó!

Truyền Tống Công Tào

Đệ tứ kỳ, Minh đường thập tự hữu nguyên vi.

Minh đường chính là khu vực trước huyệt, nơi thủy tụ và sa nhiễu. Thông thường, minh đường được chia làm ba loại:

Ngoại minh đường:

Là nơi thủy từ thiếu tổ sơn (núi thiếu tổ) chảy ra, giao hội bên ngoài án sơn (núi án). Khu vực bên trong hợp thủy này (hợp thủy thứ ba) được gọi là ngoại minh đường (còn gọi là đại minh đường). Nơi này cũng được gọi là ngoại thủy khẩu, thường có tinh diệu (sao) canh giữ, còn gọi là thủy khẩu sa. Đây là bằng chứng cho thấy huyệt đã kết. Khi thấy ngoại minh đường, có thể biết rằng long đã dừng, và huyệt chắc chắn nằm bên trong.

Trung minh đường:

Là nơi thủy từ phụ mẫu sơn (núi phụ mẫu) chảy qua hạp (eo núi), giao hội bên ngoài long hổ sa (sa long hổ). Khu vực bên trong hợp thủy này (hợp thủy thứ hai) được gọi là trung minh đường. Khi thấy trung minh đường, có thể biết rằng long khí đã tụ, và huyệt chắc chắn nằm ở đây.

Nội minh đường:

Là nơi thủy từ thảm đỉnh (đỉnh thảm) trên huyệt chảy ra, giao hội tại diêm tiêm (mũi diêm) dưới huyệt. Khu vực bên trong hợp thủy này (hợp thủy thứ nhất) được gọi là nội minh đường (còn gọi là tiểu minh đường). Nội minh đường chính là vị trí của huyệt điểm.

Nguyên vi trong Minh đường thập tự

Thực chất, huyệt là một nơi có nhiệt độ ôn hòa, vừa phải. Do đó, nó cần phải có khả năng thoát nước để tránh bị nước xâm nhập gây

lạnh. Vì vậy, trên huyệt cần có thảm để phân thủy, dưới huyệt cần có diêm để giới thủy. Chỉ có như vậy, huyệt mới có thể duy trì được nhiệt độ ổn định (giống như nguyên lý gà mẹ ấp trứng). Do đó, sự hiện diện của thảm diêm mới là bằng chứng thực sự của việc kết huyệt. Đây chính là nguyên vi ẩn chứa trong minh đường thập tự.

Nguyên vi chỉ những biến hóa cực kỳ tinh vi. Khi vẽ một đường thẳng từ thảm đỉnh đến diêm tiêm, và một đường ngang nối hai điểm phân thủy rộng nhất hai bên, giao điểm của hai đường này tạo thành minh đường thập tự, chính là vị trí của huyệt điểm. Do đó, nguyên vi trong minh đường thập tự tuyệt đối không thể bỏ qua!

Lũy vi (vòng

Đá bao quanh

(Lộ tiêm [Địa giác, Thần])

Điểm hợp lưu dòng nước thứ 1 Điểm hợp lưu dòng nước thứ 2

Tả Long

Điểm hợp lưu dòng nước thứ 3

Ngoại

đường

Trung đường

Thái cực Huyệt

Phân chia dòng nước thứ 1 Phân chia dòng nước thứ 2

Phân chia dòng nước thứ 3

Hữu Hổ

Khẩu quyết thứ năm diệu kỳ, tiền hậu thanh long cùng chiếu rọi.

Phân chia dòng nước thứ 2

Câu này từ xưa đến nay vốn nhiều tranh cãi, vì sao nói là tiền hậu

thanh long mà không nói là tiền hậu long hổ vậy?

Thực ra, trong đó ẩn chứa một bí mật lớn trong sự truyền thừa, theo Thành Môn Quyết truyền thừa trong Sơn long vạn tự quyết mà nói, nếu lấy Tý sơn Ngọ hướng (kinh văn ví dụ phần nhiều lấy chính hướng mà luận) làm ví dụ, đất chân long nhất định là thu hữu thủy quá đường, do đó thủy khẩu của nó liền ở tốn phương, tức là ở tả thanh long phương, vì vậy lúc này thanh long sa liền phải cao lên chiếu huyệt mới có thể gom nước thu khí, đây chính là luận thuật duy trọng hạ thủ sa trong sách cổ vậy!

Cho nên chỗ này nói tiền hậu thanh long mà không nói tiền hậu long hổ thực sự có thâm ý, một là để lại cho hậu nhân chứng nghiệm quyết, hai là nhắc nhở Sơn long cục thành môn quyết này dùng âm là vạn tự quyết, tuyệt đối không thể lẫn lộn! - Bí yếu trong đó, kẻ thầy tầm thường trong đời sao có thể biết được?

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa

Bí mật thứ sáu, Bát Quốc Thành Môn Khóa Chính Khí.

Sau khi xác định hạ thủ sa có thu (khí) rồi, còn phải xem xét bốn phương tám hướng của huyệt trường (tức là trung minh đường) có

bao bọc chu mật hay không, như vậy mới có thể thực sự khóa được sinh khí của huyệt trường mà không rò rỉ, mới có thể tạo phúc cho chúng ta!

Thành (bao bọc)

Ngoại đường

Môn

Trung đường

Bí mật thứ bảy, phải hướng về thiên tâm tìm thập đạo.

Hàm nghĩa của thiên tâm thập đạo trong văn này có hai tầng bậc. Một là, lấy thập tự hình thành từ tiền án, hậu kháo, tả long, hữu hổ trong trung minh đường để tìm hình loan chính hướng, đời có luận thuật cái gọi là hướng đối kỳ phong, thực tế là phạm vào thiên lệch mà không tự biết, bỏ hình loan chính hướng này không dùng, sẽ dẫn đến phòng phần phúc họa không đều, ảnh hưởng cực lớn và to lớn đến hậu thế, tuyệt đối không được làm vậy!

Sơ đồ thập đạo cát tường (tốt)

Đây là toàn bộ Thập Đạo Thiên tâm. Chỉ cần lập huyệt, lập hướng không lệch, không thoát, thì sẽ tốt lành.

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa

Sơ đồ thập đạo không cát tường (xấu)

Thập đạo Thiên tâm này không ứng hợp. Không phải là "chân địa" (đất tốt, đúng pháp). Không thể đặt huyệt.

Thứ hai, Thiên Tâm ở đây chỉ Trung Cung của Bát Quái, tức là Nguyên Vận nhập trung. Do đó, câu Hướng yếu thiên tâm tầm thập đạo có nghĩa là: Phải đợi đến khi Nguyên Vận có thể sử dụng, mới có thể lập hướng để sử dụng!

Đệ bát tài: Khuất khúc lưu thần nhận khứ lai.

  • Lưu thần chỉ thủy lưu (dòng nước), và nhận khứ lai có hai tầng ý nghĩa:
  1. Lai chỉ Thiên Môn, khứ chỉ Địa Hộ. Theo yêu cầu của quy tắc hình thế:

Thiên Môn phải mở, Địa Hộ phải đóng.Thiên Môn phải dài, Địa Hộ phải ngắn. Thiên Môn phải sáng, Địa Hộ phải tối. Chỉ khi đó, sinh khí trong huyệt mới có thể tụ lại mà không bị thoát.

  1. Nhận khứ lai còn có nghĩa là phải phân biệt lai thủy (nước chảy đến) và khứ thủy (nước chảy đi). Do đó, câu này là phần bổ sung cho Hướng yếu thiên tâm tầm thập đạo, giúp phân biệt Thiên Tâm có thể sử dụng hay không, thông qua việc nhận khứ lai. Đây cũng chính là ý nghĩa của Kim Long động bất động.

Đệ cửu thần: Nhậm tha bình địa dữ thanh vân.

Đệ thập chân: Nhược hữu nhất khuyết phi chân tình.

Thập Toàn Tác Pháp này, dù là ở vùng đồng bằng hay núi cao, nếu muốn có huyệt kết, thì đều phải tuân thủ. Chỉ cần thiếu một yếu tố, chắc chắn đó không phải là đại địa do chân long kết huyệt. Hãy xem xét thật kỹ!

Có thể thấy rằng Thập Toàn Tác Pháp thực chất chỉ có bát yếu (tám yếu tố), nhưng gọi là thập toàn để thể hiện ý nghĩa viên mãn. Tất

nhiên, nếu kết hợp với Thành Môn Quyết được đề cập sau này để tạo thành thập toàn cũng không sai, vì đạo lớn vốn không có tên!

Minh đảo trượng, quái tọa âm dương hà tất tưởng.

Trên đời truyền tụng cái gọi là Thập Nhị Đảo Trượng Pháp, nhưng thực chất nó không liên quan gì đến đảo trượng ở đây! Đảo Trượng Pháp ở đây chỉ Sơn Long Cục Thành Môn Quyết, tức là luận Tà chính thụ lai âm dương thủ (tham khảo Thanh Nang Tự).

Tại sao lại như vậy?

Đảo trượng có nghĩa là hướng về sau để suy ngẫm. Vậy câu này chẳng phải đang nói rằng: Việc lấy hướng của một vùng đất không cần suy nghĩ nhiều, chỉ cần nhìn về phía sau là được! Nghĩa là, phải dựa vào nhập thủ (điểm vào) phía sau huyệt để suy ngược lại tọa sơn sử dụng quái khí nào. Đây chính là cách sử dụng của Thành Môn Quyết!

Thức chưởng mô, Thái Cực phân minh tất hữu đồ.

Thái Cực đồ trong lòng bàn tay này chỉ Tiên Thiên Bát Quái. Nếu biết được chưởng quyết của Tiên Thiên Bát Quái, thì việc quái tọa âm dương hà tất tưởng chẳng phải sẽ rõ ràng như theo hình mà tìm sao?

ĐOÀI

CÀN

TỐN

LY

KHẢM

CHẤN

KHÔN

CẤN

Biết hóa khí, sinh khắc chế hóa phải thuộc lòng.

Huyền không lục pháp chân truyền – phongthuylienhoa
Hóa khí là chỉ huyền không đại quái thu được từ sự giao thoa của tiên thiên bát quái, sự sinh khắc (ngũ hành của khí tiên thiên quẻ) và chế hóa (sinh vượng của vận quẻ hậu thiên) đều phải thuộc lòng, phàm việc lập hướng, thu sơn, thu thủy đều không thể thiếu nó!

Nói về ngũ tinh, vuông tròn nhọn tú phải phân minh.

Thành môn lập hướng của quẻ tọa âm dương hà tất tưởng phía trước đã luận thuật phân minh, nhưng một huyệt trường không thể chỉ có một ngọn huyệt tinh, các ngọn núi khác cũng sẽ gây ảnh hưởng đến huyệt điểm, lúc này phải dùng huyền không quẻ khí (ngũ tinh tức ngũ hành, tức là chỉ huyền không quẻ khí mà nói) để thu khí, nhưng nhớ rằng, chỉ có phương, tròn, nhọn, tú mới có thể lấy dùng,

nếu phá, vụn, lệch, nghiêng thì tuyệt đối không thể thu, ghi nhớ ghi nhớ!

Hiểu cao thấp, tinh phong tỉ mỉ biện được huyền vi.

Mà trong các ngọn núi của huyệt trường, phải từng cái tỉ mỉ phân biệt sự khác biệt nhỏ nhặt của chúng, thông thường phần nhiều lấy ngọn cao nhất trong minh đường làm trọng điểm xem xét, những ngọn còn lại chỉ cần hình dáng tốt là được.

Quỷ cùng diệu, sinh tử khứ lai thật diệu kỳ.

Núi nhô ra sau huyệt gọi là quỷ, núi nhô ra của long hổ sa gọi là diệu, một địa có cái này thì biểu thị long khí to lớn, ngoài kết chân huyệt ra, còn có dư lực có thể sinh quỷ diệu, là địa cực kỳ đại phú đại quý. Duy, quỷ diệu này cũng phải được sinh vượng, mới có thể thực sự được diệu kỳ của nó!

Hướng phóng thủy, sinh vượng có cát, hưu tù chăng.

Phóng thủy tức là khí khẩu, khí khẩu này nhất định phải được sinh vượng mới có thể nói là cát, nếu không chỉ có thể đợi thời cơ mà dùng thôi! Điều này Tổ sư đã nhắc đi nhắc lại!

Bài áo ngữ này hoàn toàn được viết theo trình tự long, huyệt, sa, thủy không? Đoạn trước của thập toàn tác pháp được luận thuật theo tinh yếu long, huyệt, sa, thủy của hình loan, đoạn kinh văn sau cũng tóm tắt từng điểm trọng yếu của việc lấy dùng long, huyệt, sa, thủy của lý khí, có hình lý kiêm bị như vậy mới là tác pháp hoàn chỉnh của học lý huyền không!

Từ khoá: bài 18 thanh nang · ["huyền không lục pháp" · "huyền không lục pháp chân truyền" · "phongthuylienhoa" · "thầy vũ giới" · "dương công cổ pháp"

Bài viết liên quan

Bình luận

để gửi bình luận.