Huyền Không Lục Pháp

Bài 12: Ứng dụng Thuỷ Vận và Sơn Vận trong Huyền Không Lục Pháp

Thầy Vũ Giới – phongthuylienhoa — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Bài 12: Ứng dụng Thuỷ Vận và Sơn Vận trong Huyền Không Lục Pháp

Chuyên đề Huyền Không Lục Pháp chân truyền do phongthuylienhoa – Thầy Vũ Giới biên soạn và hệ thống lại theo mạch Dương Công cổ pháp. Đây là bài 12 trong loạt bài giảng Lục Pháp.

ỨNG DỤNG CỦA THỦY VẬN VÀ SƠN VẬN:

Sau khi biết được thời gian bắt đầu và kết thúc của mỗi vận trong Thủy vận và Sơn vận, tiếp theo là sắp xếp số Nguyên Vận của mỗi vận vào trung cung, dựa trên nguyên tắc dương thuận âm nghịch để lần lượt suy ra các vận tiếp theo.

Đất có thể dùng và không thể dùng!

Ví dụ hiện tại là vận 8, Linh thần được sắp xếp đến tiên thiên quẻ Chấn, mà tiên thiên các quẻ Càn, Chấn, Khảm, Cấn đều là dương, thông khí với nhau, do đó tiên thiên các quẻ Càn, Chấn, Khảm, Cấn đều là phương Linh thần. Vì vậy, hậu thiên các phương Ly, Cấn, Đoài, Càn chính là phương Linh thần (phương vị sử dụng hậu thiên bát quái).

9

4

2

1

8

6

5

3

7

CÀN

KHẢM

CHẤN

CẤN

CÀN

KHẢM

CHẤN

CẤN

LY

ĐOÀI

CẤN

CÀN

LY

ĐOÀI

CẤN

CÀN

Tiên thiên bát quáiHậu thiên bát quái

Hình 234

Về việc luận bàn vị trí của Chính thần, thì cung đối diện với Linh thần chính là vị trí của Chính thần (tham khảo Thanh nang tự: trong vận 2 và 8, Linh thần được sắp xếp đến tiên thiên quẻ Chấn, do đó Chính thần sẽ nằm ở tiên thiên quẻ Đoài). Mà tiên thiên các quẻ Khôn, Tốn, Ly, Đoài đều là âm, thông khí với nhau, do đó tiên thiên các quẻ Khôn, Tốn, Ly, Đoài đều là phương Chính thần. Vì vậy, hậu thiên các phương Khảm, Khôn, Chấn, Tốn chính là phương Chính thần. (Phần Nhập môn đã luận bàn chi tiết, xin tham khảo thêm!)

Thử lấy ví dụ từ biểu đồ đã đề cập ở chương trước làm minh họa:

Hình 235
Hình 235

Cửa khí của ngôi nhà này nằm ở quẻ Ly. Hiện tại là vận 8, quẻ Ly chính xác nằm ở phương Linh thần. Do đó, ngôi nhà này từ năm Bính Tý đến năm Bính Thân, tức là từ năm 1996 đến năm 2016, chắc chắn là một ngôi nhà vượng khí, rất thích hợp để sử dụng.

Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng, cục này được luận dựa trên địa khí, vì vậy phải lấy thời điểm bắt đầu sử dụng làm mốc. Nếu ngôi nhà đã được sử dụng trước năm 1996 thì không áp dụng luận giải này. Lấy thêm một ví dụ khác:

Hình 236
Hình 236

Quẻ này nằm ở phương Linh thần, do đó có thể biết rằng ngôi nhà này từ năm Bính Tý đến năm Bính Thân, tức là từ năm 1996 đến năm 2016, cũng chắc chắn là một ngôi nhà vượng khí, và cũng thích hợp để sử dụng.

Tuy nhiên, khác với ví dụ trước, cục này cần lấy tầng lầu làm chính để phân biệt tỷ trọng của địa khí và thiên khí trong cục. Nếu lấy địa khí làm chính, thì phải lấy thời điểm bắt đầu sử dụng làm mốc, do đó nếu ngôi nhà đã được sử dụng trước năm 1996 thì không được coi là cát lợi. Ngược lại, nếu lấy thiên khí làm chính, thì vận qua thì biến, cần lấy thời điểm hiện tại sử dụng làm mốc, vì vậy nếu ngôi nhà đã được sử dụng trước năm 1996, vẫn được coi là cát lợi! (Sự khác biệt này, xin tham khảo thêm trong phần Nâng cao.)

Hình 237
Hình 237
Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa

Bây giờ, hãy xem một ví dụ khác biệt hơn: Ngôi nhà này như đã đề cập ở chương trước, sinh khí của quẻ Ly do tòa nhà bao quanh mà tụ khí tại quẻ Khảm. Vậy câu hỏi đặt ra là: Ngôi nhà này đón nhận khí Ly hay khí Khảm?

Hình 238

Nếu thu nạp Ly khí, thì ngôi nhà này là vượng, còn nếu thu nạp Khảm khí, thì ngôi nhà này chắc chắn suy! Vậy rốt cuộc thu nạp loại khí nào? Từ đó có thể thấy, tại sao Huyền Không coi trọng việc định cục, một khi định cục sai, cát hung sẽ khác biệt một trời một vực!

Ngôi nhà này thu nạp Khảm khí, vì tụ khí nằm ở Khảm quái, điều này không có gì tranh cãi. Vì hiện tại là vận 8, Khảm quái nằm ở chính thần phương, nên ngôi nhà này từ năm Bính Tý đến năm Bính Thân, tức là từ năm 1996 đến năm 2016 sẽ suy bại.

Sai rồi, thực chất sinh khí được tụ trong cục này nên được luận theo chính thần mới chính xác. Tại sao vậy? Đó là vì hồi phong phản khí, qua một lần hồi và phản, thì Thư Hùng chuyển đổi lẫn nhau, linh thần sẽ biến thành chính thần! Đây là một ý nghĩa khác của điên đảo!

Do đó, ngôi nhà này trong vận 8 hiện tại thực sự là một đại vượng, nên thủ dụng. Các bạn đừng nhìn lầm nhé! Tất nhiên, vận 8 được đề cập ở đây là Sơn Vận vận 8, tức là từ năm Nhâm Ngọ đến năm Ất Tỵ, tức là từ năm 2002 đến năm 2025.

Các bạn nhất định phải lưu ý! Đây là điểm mà nhiều người thường mắc sai lầm, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ năm 1996 đến năm 2002. Hãy nhớ rằng Thủy Vận vận 8 bắt đầu từ năm 1996, còn Sơn Vận vận 8 phải đợi đến năm 2002 mới bắt đầu, đừng nhầm lẫn nhé! Chúng ta hãy xem một trường hợp tôi từng khảo sát trước đây. Đây là một dãy nhà trong ngõ hẻm, hai bên đối diện nhau, đều cao

khoảng ba tầng, đường dốc từ nam xuống bắc. Chủ nhà đã bắt đầu ở từ trước năm 1996.

Hình 239
Hình 239

Ngôi nhà này chắc chắn là một động khí cục, thủy khẩu của cục này

được biết là nằm ở quẻ Khảm.

Hình 240
Hình 240

Ngôi nhà này nằm trong vận 7 và vị trí của Linh Thần trong vận 7 rơi vào các phương vị 2, 3,4. Do đó, có thể khẳng định ngôi nhà này thuộc loại Vượng Trạch – tức là nhà đương vận, khí vượng, không nghi ngờ gì.

6

2

4

5

7

9

1

3

8

6

2

4

5

7

9

1

3

8

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

4 9 2

3 5 7

8 1 6

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

4 9 2

3 5 7

8 1 6

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

Hình 241

Thực tế cũng đúng như vậy, vợ chồng chủ nhà sống ở đây, vài năm qua quả thực cũng kiếm được không ít tiền, tình cảm hai người cũng luôn rất tốt.

Cho đến năm 1997, vài căn phía sau dãy nhà này được xây dựng lại thành một tòa nhà mười hai tầng, như hình minh họa:

Hình 242
Hình 242

Theo hình tâm lập cực có thể thấy, tòa nhà này cũng nằm ở phương

vị quẻ Khảm của ngôi nhà đó.

Hình 243
Hình 243

9

4

2

1

8

6

5

3

7

9

4

2

1

8

6

5

3

7

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

4 9 2

3 5 7

8 1 6

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

4 9 2

3 5 7

8 1 6

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

Hình 244

Tuy nhiên, thực tế tình hình lại ngược lại, chỉ vài năm sau, chủ nhà đã qua đời vì bệnh. Tại sao vậy? Năm 1997 vẫn là Sơn Vận vận 7

nhưng lại bước sang Thủy vận của vận 8 nên Khảm là Chính Thần. Nhà này sẽ nạp khí Khảm lúc này sẽ suy bại.

Từ ví dụ này có thể thấy, họa phúc của một ngôi nhà thực sự liên quan rất nhiều đến sự thay đổi của các công trình xung quanh. Khi sử dụng nhà của mình hoặc khảo sát nhà cho người khác, các bạn đừng bỏ qua điểm quan trọng này! Nếu muốn mua nhà, hãy cố gắng tìm những khu vực xung quanh đã xây dựng hoàn thiện. Nếu đã ở, hãy chú ý đến sự thay đổi của các công trình xung quanh. Nếu xuất hiện bất kỳ cục thế bất lợi nào, đừng không tin, hãy tránh đi là tốt nhất, nhớ kỹ nhé!

Đến đây, tôi đã tiết lộ toàn bộ bí mật về Thủy Vận và Sơn Vận trong tân truyền. Đây đều là những bí mật không truyền ra ngoài từ xưa, các học viên hãy trân trọng và ghi nhớ. Phần còn lại, chúng ta sẽ bổ sung thêm khi diện thụ!

AI TINH

Về nguyên tắc và phương pháp ứng dụng của Ai Tinh, chúng ta đã giải thích rất rõ ràng trong Chương Nhập Môn và Chương Ứng Dụng Nâng Cao. Ở đây không còn gì để đi sâu thêm, hy vọng các học viên có thể ôn tập lại phần Ai Tinh trong hai phần giáo trình trước. Mặc dù nội dung được trình bày đơn giản, nhưng nguyên lý thực sự đã đi sâu vào cốt lõi của Huyền Không tân truyền!

Do đó, ở đây chúng ta sẽ không tốn thêm giấy mực, các bạn hãy tự ôn lại các điểm quan trọng trong giáo trình. Chỉ cần nhớ rằng, Ai Tinh là nền tảng của Thành Môn, tuyệt đối không thể lơ là!

THÀNH MÔN - (DIỆN THỤ)

(Chương này tác giả cần khẩu thụ tâm truyền, nên tạm lược bỏ! Tác giả có gợi mở một số bí pháp ở cuối chương 2 này. Mọi người cố gắng đọc hết quyển này sẽ hiểu được yếu quyết của Thành Môn Quyết)

THÁI TUẾ - ĐẠI HẠN PHÁP CHUYÊN LUẬN

Việc ứng dụng Thái Tuế Pháp, tôi nghĩ sau khi trải qua Chương Nhập Môn và Chương Ứng dụng nâng cao, các học viên đã nắm được các điểm quan trọng khá tốt. Tâm pháp Huyền Không có câu: Nhất tâm thống tứ quyết nhất pháp, nhất pháp chu tứ quyết nhất tâm, có thể thấy rằng Thái Tuế Pháp tuy đứng cuối trong Lục Pháp, nhưng thực chất liên quan mật thiết đến việc thực hành phong thủy, là phần hoàn thiện của Tứ Quyết. Nếu lơ là ở phần này, thì toàn bộ công sức trước đó sẽ đổ sông đổ bể!

Từ hai phần giáo trình trước, chúng ta có thể biết rằng Thái Tuế Pháp thực sự là phần phức tạp nhất trong Lục Pháp, được chia thành ba loại theo độ dài thời gian: Đại Hạn, Tiểu Hạn, và Lưu Niên. Còn về ứng dụng thực tế, thì có thể chia thành bốn mục lớn: Tuế Phù, Ứng Sự, Thôi Cát, và Trạch Cát.

Trong đó, phần Lưu Niên của Thái Tuế Pháp đã được giải thích rõ ràng trong Chương Nhập Môn, bao gồm hai bí mật tân truyền là Lạc Điểm Đại Tuế và Nguyên Vận Tuế Phù Giao Tiếp. Phần Tiểu Hạn của Thái Tuế Pháp cũng đã được giải thích rõ ràng trong Chương Ứng dụng nâng cao, bao gồm hai bí mật tân truyền là Trị Niên Phi Tinh Thôi Cát và Trạch Mệnh Phi Tinh Ứng Sự.

Từ chương này, chúng ta sẽ tập trung vào phần cuối cùng của Thái Tuế Pháp, chính là Đại Hạn. Phần Đại Hạn này đã được đề cập sơ qua trong phần giảng về Thiên Ngọc Kinh, nhưng chưa làm rõ toàn bộ lai lịch. Vì vậy, hãy cùng nhau khám phá bí mật của Đại Hạn Thái Tuế Pháp!

Hệ thống Thiên Vận: Chúng ta đã nói trước đây rằng, phần Nguyên Vận trong hệ thống Huyền Không tân truyền được chia thành hai hệ thống lớn: Thiên Vận và Địa Vận. Trong đó:

Thiên Vận: Vì thống lĩnh thiên đạo, nên thuộc về dương khí, chủ đạo sự hiển hiện của quang sắc trong các đại tiểu hạn của Tử Bạch. Quang sắc được chia thành chín loại, và vì tốc độ quang sắc là hằng định, nên chín vận đều có độ dài bằng nhau, lấy ba làm đơn vị, Tam Vận hợp thành một tiểu nguyên, còn gọi là Tam Nguyên Cửu Vận.

Địa Vận: Vì thống lĩnh địa đạo, nên thuộc về âm chất, chủ đạo sự biến hóa của Kim Long trong sơn thủy đại địa. Có tám quái, và vì sự khác biệt của âm dương hào, nên Bát Vận có độ dài ngắn khác nhau, lấy hai làm đơn vị, hai tiểu nguyên thống lĩnh bốn quái dương và bốn quái âm, còn gọi là Nhị Nguyên Bát Vận!

Từ đó có thể thấy, muốn sử dụng Đại Hạn Thái Tuế, trước tiên cần xác định được thời gian bắt đầu và kết thúc của Thiên Vận. Vậy làm thế nào để tính toán Thiên Vận?

Trước tiên, theo hậu thiên vi dụng và Lạc Thư tra giáp vận chi hưng suy, để suy tính Thiên Vận, cần dựa vào Hậu Thiên Bát Quái kết hợp với Lạc Thư.

4

9

2

3

5

7

8

1

6

4

9

2

3

5

7

8

1

6

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

TỐN

LY

KHÔN

CHẤN

ĐOÀI

CẤN

KHẢM

CÀN

Hình 245

Điểm khác biệt so với Địa Vận ở đây là, mặc dù Lạc Thư có sự khác biệt về thuận và nghịch, nhưng Thiên Vận chủ đạo thực chất là thời gian tuyệt đối, khác biệt về bản chất so với thời gian tương đối của Địa Vận trong không gian.

Hơn nữa, chất tính của Thiên Vận thực chất là quang sắc, có màu

sắc nhưng không có chất, nên thuộc về dương khí. Theo nguyên tắc dương thuận âm nghịch, lúc này Lạc Thư cần sử dụng dương thuận!

Sau khi kết hợp hai hình minh họa, có thể biết được:

Thiên Vận vận 1 là Khảm quái chủ vận,

Thiên Vận vận 2 là Khôn quái chủ vận,

Thiên Vận vận 3 là Chấn quái chủ vận,

Thiên Vận vận 4 là Tốn quái chủ vận,

Thiên Vận vận 5 là Trung cung chủ vận,

Thiên Vận vận 6 là Càn quái chủ vận,

Thiên Vận vận 7 là Đoài quái chủ vận,

Thiên Vận vận 8 là Cấn quái chủ vận,

Thiên Vận vận 9 là Ly quái chủ vận.

Người xưa dùng Giáp Tý để ghi chép năm tháng, một Giáp Tý là 60 năm. Theo luận tam sinh vạn vật, hợp ba Giáp Tý thành 180 năm là một đại dụng, còn gọi là Nhất Đại Nguyên. Thiên Vận chủ đạo là quang sắc, vì quang sắc có chín loại, và tốc độ quang sắc là hằng định, nên chia Nhất Đại Nguyên thành chín phần để sử dụng. Do đó, trong chín vận của Thiên Vận, mỗi vận kéo dài 20 năm, các vận thay nhau tuần hoàn.

Trong đó, vận 1, 2, 3 hợp thành Thượng Nguyên, vận 4, 5, 6 hợp thành Trung Nguyên, vận 7, 8, 9 hợp thành Hạ Nguyên, nên tổng hợp lại gọi là Tam Nguyên Cửu Vận.

Từ đó có thể thấy, Thiên Đạo cũng bắt đầu vận từ năm Giáp Tý, chín vận vừa đúng 180 năm. Như vậy có thể tính được thời gian bắt đầu và kết thúc của mỗi vận trong Tam Nguyên Cửu Vận.

Vận 1 - Khảm quái: Kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Tý đến năm Quý Mùi, gần đây là từ năm 1864 đến năm 1883.

Vận 2 - Khôn quái: Kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Thân đến năm Quý Mão, gần đây là từ năm 1884 đến năm 1903.

Vận 3 - Chấn quái: Kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Thìn đến năm Quý Hợi, gần đây là từ năm 1904 đến năm 1923.

Vận 4 - Đoài quái: Kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Tý đến năm Quý Mùi, gần đây là từ năm 1924 đến năm 1943.

Vận 5 - Trung cung: Không có quái, kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Thân đến năm Quý Tỵ, gần đây là từ năm 1944 đến năm 1953. 10

năm đầu thuộc về vận 4, từ năm Giáp Ngọ đến năm Quý Mão, gần đây là từ năm 1954 đến năm 1963. 10 năm sau thuộc về vận 6.

Vận 6 - Càn quái: Kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Thìn đến năm Quý Hợi, gần đây là từ năm 1964 đến năm 1983.

Vận 7 - Đoài quái: Kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Tý đến năm Quý Mùi, gần đây là từ năm 1984 đến năm 2003.

Vận 8 - Chấn quái: Kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Thân đến năm Quý Mão, gần đây là từ năm 2004 đến năm 2023.

Vận 9 - Càn quái: Kéo dài 20 năm, từ năm Giáp Thìn đến năm Quý Hợi, gần đây là từ năm 2024 đến năm 2043.

Phương pháp bài bàn Huyền Không Phi Tinh:

Sau khi biết được thời gian bắt đầu và kết thúc của mỗi vận trong Thiên Vận, chúng ta mới có thể bắt đầu bài cái gọi là Huyền Không Phi Tinh Bàn.

Trước tiên, cần xác định Thiên Vận nào đang chủ đạo. Sau năm 2004 là vận 8 chủ đạo, trước năm 2004 là vận 7 chủ đạo. Cũng giống như Địa Vận, cần lấy thời điểm bắt đầu sử dụng làm chuẩn, hãy nhớ kỹ điều này!

Sau khi xác định được Thiên Vận chủ đạo, đưa Nguyên Vận số của nó vào trung cung. Điểm khác biệt so với Địa Vận là chất tính của Thiên Vận thực chất là quang sắc, nên thuộc về dương khí. Theo nguyên tắc dương thuận âm nghịch, Thiên Vận luôn sử

dụng dương thuận. Nói cách khác, sau khi Nguyên Vận số vào trung

cung, phải thuận hành! Đây chính là cái gọi là vận bàn.

9

5

7

8

1

3

4

6

2

9

5

7

8

1

3

4

6

2

1

6

8

9

2

4

5

7

3

1

6

8

9

2

4

5

7

3

2

7

9

1

3

5

6

8

4

2

7

9

1

3

5

6

8

4

Vận bàn Thiên Vận Vận 1

3

8

1

2

4

6

7

9

5

Vận bàn Thiên Vận Vận 4

6

2

4

5

7

9

1

3

8

Vận bàn Thiên Vận Vận 7

Vận bàn Thiên Vận Vận 2

4

9

2

3

5

7

8

1

6

Vận bàn Thiên Vận Vận 5

7

3

5

6

8

1

2

4

9

Vận bàn Thiên Vận Vận 8

Hình 246

Vận bàn Thiên Vận Vận 3

5

1

3

4

6

8

9

2

7

Vận bàn Thiên Vận Vận 6

8

4

6

7

9

2

3

5

1

Vận bàn Thiên Vận Vận 9

Ví dụ: Hiện tại là năm 2009, đương nhiên thuộc vận 8 chủ sự.

7

3

5

6

8

1

2

4

9

Sau khi sắp xếp vận bàn, tiếp theo cần dựa vào tọa hướng khác nhau, đem vận tinh sắp xếp đến tọa sơn và hướng theo nguyên tắc dương thuận âm nghịch để bay bố, từ đó thu được Huyền không phi tinh bàn mà chúng ta cần.

Ví dụ, lấy hướng Tý Sơn Ngọ Hướng trong vận 8 làm ví dụ, quan sát vận bàn của vận 8 có thể thấy:

Ngọ Sơn được sắp xếp vận tinh 3, vì đây là sao hướng nên còn được gọi là hướng tinh.

Tý Sơn được sắp xếp vận tinh 4, vì đây là sao tọa sơn nên còn được gọi là sơn tinh.

Sau khi xác định được hướng tinh và sơn tinh, đem chúng điền vào trung cung. Thông thường, nguyên tắc là hướng tinh nằm bên phải, sơn tinh nằm bên trái, như hình minh họa dưới đây:

7

3

5

6

4 3

8

1

2

4

9

Tiếp theo, chúng ta cần dựa vào nguyên tắc dương thuận âm nghịch để bay bố hướng tinh và sơn tinh. Theo nguyên tắc được nêu trong Thiên Ngọc Kinh: Can duy âm quái nghịch hành thủ, tức là các quẻ âm thuộc can sẽ bay bố theo chiều nghịch. Dưới đây là thuộc tính âm dương của 24 sơn hướng:

12 sơn dương: Nhâm, Bính, Giáp, Canh, Cấn, Khôn, Càn, Tốn, Dần, Thân, Tỵ, Hợi.

12 sơn âm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Quý, Đinh, Ất, Tân, Sửu, Mùi,

Thìn, Tuất.

Lưu ý quan trọng: Ở đây, nguyên tắc dương thuận âm nghịch không phải được quyết định dựa trên tọa hướng của ngôi nhà, mà dựa trên thuộc tính âm dương của hướng tinh và sơn tinh.

Chúng ta hãy xem xét phần hướng tinh trước. Trong ví dụ này, hướng tinh là vận tinh 3, tương ứng với quẻ Chấn. Quẻ Chấn bao gồm ba sơn: Giáp, Mão, Ất. Theo như đã nêu ở trên:

Giáp thuộc dương, nên bay bố theo chiều thuận.

Mão và Ất thuộc âm, nên bay bố theo chiều nghịch.

Vậy câu hỏi đặt ra là: Hướng tinh này nên bay bố theo chiều thuận hay nghịch?

Huyền Không Lục Pháp chân truyền - phongthuylienhoa

4

9

2

3

5

7

8

1

6

4

9

2

3

5

7

8

1

6

Hình 247

Để giải quyết vấn đề này, chúng ta sẽ cần sử dụng Tam Nguyên Hệ Thống của Nhị Thập Tứ Sơn mà chúng tôi đã giảng dạy trong Long Môn Kháo.

Thiên Nguyên Hệ Thống: Bao gồm tám sơn: Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Càn, Khôn, Cấn, Tốn, v.v.

Hình 248: Tám sơn thuộc Thiên Nguyên
Hình 248: Tám sơn thuộc Thiên Nguyên

Địa Nguyên Hệ Thống: Bao gồm tám sơn: Nhâm, Bính, Canh, Giáp,

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, v.v.

Hình 249: Tám sơn thuộc Địa Nguyên
Hình 249: Tám sơn thuộc Địa Nguyên

Nhân Nguyên Hệ Thống: Bao gồm tám sơn: Quý, Đinh, Tân, Ất, Dần, Thân, Tỵ, Hợi, v.v.

Hình 250: Tám sơn thuộc Nhân Nguyên
Hình 250: Tám sơn thuộc Nhân Nguyên

Điền vào trung cung, như hình minh họa

7

3

5

6

8

1

2

4

9

Hình 251

Tiếp theo, xét phần hướng tinh:

Hướng của sơn Bính là một trong Địa nguyên bát sơn, và hướng tinh được sắp xếp là vận tinh 3, tương ứng với quẻ Chấn. Quẻ Chấn bao gồm ba sơn: Giáp, Mão, Ất. Khác với ví dụ trước, theo yêu cầu của Đồng nguyên nhất khí, cần lấy sơn Giáp (cũng thuộc Địa nguyên bát sơn) làm tiêu chuẩn để xác định thuộc tính âm dương của hướng tinh. Vì Giáp thuộc dương, nên hướng tinh lúc này phải bay bố theo chiều thuận, như hình minh họa dưới đây:

2

7

7

3

9

5

1

6

3

8

5

1

6

2

8

4

4

9

Hình 252

Tiếp theo, xét phần sơn tinh:

Tọa sơn là Nhâm sơn, cũng thuộc Địa nguyên bát sơn, và sơn tinh được sắp xếp là vận tinh 4, tương ứng với quẻ Tốn. Quẻ Tốn bao

gồm ba sơn: Thìn, Tốn, Tỵ. Tương tự, theo yêu cầu của Đồng nguyên nhất khí, cần lấy sơn Thìn (cũng thuộc Địa nguyên bát sơn) làm tiêu chuẩn để xác định thuộc tính âm dương của sơn tinh. Vì Thìn thuộc âm, nên sơn tinh lúc này phải bay bố theo chiều nghịch, như hình minh họa dưới đây:

5

7

9

3

7

5

6

6

4

8

2

1

1

2

8

4

3

9

Hình 253

Tương tự, đem hai bàn Hướng Tinh và Sơn Tinh này an vào Vận Bàn, thì Huyền Không Phi Tinh Bàn của vận 8, hướng Bính, tọa Nhâm sẽ hoàn thành.

52

7

97

3

79

5

61

6

43

8

25

1

16

2

88

4

34

9

Hình 254

Đã hiểu cả rồi chứ! Chúng ta hãy lấy thêm một ví dụ về vận 7 để so sánh. Vẫn là tọa Tý hướng Ngọ, trước tiên hãy đổi Vận Bàn của vận 7 thành chữ lớn:

6

2

4

5

7

9

1

3

8

Hình 255

Quan sát Vận Bàn của vận 7 có thể thấy, xuất hướng Ngọ sơn an được Vận Tinh Nhị, tọa sơn Tý sơn an được Vận Tinh Tam, tương tự đem chúng điền vào Trung Cung, như hình minh họa.

6

2

4

5

32

7

9

1

3

8

Hình 256

Xuất hướng Ngọ sơn vốn là một trong Thiên Nguyên Bát Sơn, mà Hướng Tinh được an của nó là Vận Tinh Nhị, nhị là Khôn Quái, trong Khôn Quái có ba sơn Vị, Khôn, Thân, theo yêu cầu của Đồng Nguyên Nhất Khí, nên lấy Khôn sơn, cũng là một trong Thiên Nguyên Bát Sơn, làm tiêu chuẩn xem xét thuộc tính âm dương của Hướng Tinh mới

chính xác, bởi vì Khôn sơn là dương, có thể biết lúc này Hướng Tinh nên thuận hành, như hình minh họa.

1

6

6

2

8

4

9

5

2

7

4

9

5

1

7

3

3

8

Hình 257

Tọa sơn Tý sơn cũng là một trong Thiên Nguyên Bát Sơn, mà Sơn Tinh được an của nó là Vận Tinh Tam, tam là Chấn Quái, trong Chấn Quái có ba sơn Giáp, Mão, Ất, theo yêu cầu của Đồng Nguyên Nhất Khí, nên lấy Mão sơn, cũng là một trong Thiên Nguyên...^Khúc』chi nhất, làm tiêu chuẩn xem xét thuộc tính âm dương của Sơn Tinh mới chính xác, bởi vì Mão sơn là âm, có thể biết lúc này Sơn Tinh ngược lại nên nghịch hành, cũng như hình minh họa.

4

6

8

2

6

4

5

5

3

7

1

9

9

1

7

3

2

8

Hình 258

Tương tự, đem hai bàn Hướng Tinh và Sơn Tinh này an vào Vận Bàn, thì Huyền Không Phi Tinh Bàn của vận 7, hướng Ngọ, tọa Tý sẽ hoàn thành.

41

6

86

2

68

4

59

5

32

7

14

9

95

1

77

3

23

8

Hình 259

Tôi nghĩ đến đây quý vị đều đã có thể hiểu được phương pháp an tinh bàn của Huyền Không Phi Tinh này rồi. Các bàn của các vận khác chúng ta sẽ không nói thêm nữa. Các học viên có thể tham khảo cuốn sách Huyền Không Phi Tinh Phong Thủy của thầy Lâm Quốc Hùng ở Hồng Kông, trong đó mô tả chi tiết, quý vị chắc chắn sẽ thu được nhiều lợi ích từ đó!

Từ khoá: bài 12 ứng dụng · ["huyền không lục pháp" · "huyền không lục pháp chân truyền" · "phongthuylienhoa" · "thầy vũ giới" · "dương công cổ pháp"

Bài viết liên quan

Bình luận

để gửi bình luận.