Hậu Thiên Bát Quái luận về lý tuần hoàn khí lưu ngũ hành, là mặt dụng của Dịch. Đây cũng là vòng quái mà người đời quen dùng để gọi tên phương vị: nói phương nam tức nói Ly phương.

1. Kinh văn tám chặng
Đế xuất chấn, tề tốn, tương kiến ly, trí dịch khôn, duyệt đoài, chiến càn, lao khảm, thành cấn.
- Đế xuất hồ Chấn — khởi đầu từ phương Đông, nơi Chấn tượng trưng cho sự khởi động và bắt đầu.
- Tề hồ Tốn — điều hoà và phát triển ở Đông Nam, nơi Tốn tượng trưng cho thâm nhập và lan toả.
- Tương kiến hồ Ly — giao tiếp và toả sáng ở phương Nam, Ly tượng trưng cho rực rỡ, quang sắc.
- Trí dịch hồ Khôn — lao động và phục vụ ở Tây Nam, Khôn tượng trưng cho thuận theo và nuôi dưỡng.
- Thuyết ngôn hồ Đoài — vui vẻ trao đổi ở phương Tây, Đoài tượng trưng cho vui tươi và giao tiếp.
- Chiến hồ Càn — đối mặt thử thách ở Tây Bắc, Càn tượng trưng cho mạnh mẽ và quyết liệt.
- Lao hồ Khảm — lao động vất vả, vượt khó ở phương Bắc, Khảm tượng trưng cho hiểm trở và nỗ lực.
- Thành ngôn hồ Cấn — kết thúc và thành tựu ở Đông Bắc, Cấn tượng trưng cho dừng lại và hoàn thiện.
2. Đọc vòng Hậu Thiên như một vòng đời sự việc
Tám chặng trên không chỉ là tám phương, mà còn là tám giai đoạn của bất cứ sự việc nào: khởi động (Chấn) — nuôi lớn (Tốn) — thành danh (Ly) — vận hành phục vụ (Khôn) — thu hoạch, giao dịch (Đoài) — cạnh tranh, tranh đấu (Càn) — gian nan sàng lọc (Khảm) — kết thúc và chuyển giao (Cấn). Khi luận vận trình một gia trạch hay một dự án, có thể dùng vòng này để định giai đoạn.
3. Khi nào dùng Hậu Thiên
Việc gì liên quan đến dụng — ứng dụng, hiệu suất, cách tính, vận hành — thì dùng Hậu Thiên Bát Quái để luận. Trong thực hành: Hậu Thiên dùng để định phương vị bát phương trên la bàn, để phối 24 sơn địa bàn, để luận sinh khắc ngũ hành của các cung.
Thể dụng phân minh thì luận đoán không lẫn lộn: một bên là kết cấu, một bên là vận hành.