Ngũ hành thiên can là cách phân hành của mười can trời. Nắm được bảng này thì mọi phép sinh khắc, hợp hoá về sau đều tự sáng tỏ.

Năm cặp hành
Giáp dương mộc, Ất âm mộc, chủ mùa xuân và phương Đông. Bính dương hoả, Đinh âm hoả, chủ mùa hạ và phương Nam. Mậu dương thổ, Kỷ âm thổ, giữ trung cung. Canh dương kim, Tân âm kim, chủ mùa thu và phương Tây. Nhâm dương thuỷ, Quý âm thuỷ, chủ mùa đông và phương Bắc.
Sinh khắc theo cặp
Trong ngũ hành thiên can, can sinh can theo vòng mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc. Khắc thì cách một ngôi: mộc khắc thổ, thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc. Cùng hành cùng âm dương là tỷ kiên, cùng hành khác âm dương là kiếp tài.
Vượng suy theo mùa
Một can mạnh hay yếu không chỉ do bản thân mà do mùa. Giáp Ất vượng ở xuân, tù ở thu. Bính Đinh vượng ở hạ. Canh Tân vượng ở thu. Nhâm Quý vượng ở đông. Mậu Kỷ vượng ở bốn tháng cuối mùa. Người mới học hay quên bước xét mùa nên luận sai mạnh yếu.
Ứng dụng phong thuỷ
Chọn màu sắc, vật liệu, phương vị đều nương theo hành của can chủ. Nhà của người nhật chủ thuộc kim yếu thì nên bổ thổ sinh kim thay vì thêm hoả khắc. Đọc thêm Thiên can tương khắc và Địa chi tàng can.

Ghi nhớ
- Hai can liền nhau luôn cùng một hành.
- Xét ngũ hành thiên can phải kèm mùa mới đủ.