Địa chi tàng can nghĩa là bên trong mỗi chi còn cất giữ một hoặc nhiều thiên can, gọi là nhân nguyên. Đây là tầng sâu nhất của mười hai chi, cho biết khí thật vận hành bên trong.

Bảng tàng can
Tý tàng Quý. Sửu tàng Kỷ, Quý, Tân. Dần tàng Giáp, Bính, Mậu. Mão tàng Ất. Thìn tàng Mậu, Ất, Quý. Tỵ tàng Bính, Mậu, Canh. Ngọ tàng Đinh, Kỷ. Mùi tàng Kỷ, Đinh, Ất. Thân tàng Canh, Nhâm, Mậu. Dậu tàng Tân. Tuất tàng Mậu, Tân, Đinh. Hợi tàng Nhâm, Giáp.
Bản khí, trung khí, dư khí
Can đứng đầu là bản khí, quyết định hành chính của chi. Can thứ hai là trung khí, thường là hành được chi ấy làm kho. Can thứ ba là dư khí, tàn dư của mùa trước. Bốn chi Tý, Mão, Ngọ, Dậu khí thuần nên tàng can rất ít, còn bốn chi mộ Thìn Tuất Sửu Mùi tàng tới ba can.
Vì sao phải xét địa chi tàng can
Hai lá số cùng chi nhưng khác thời điểm trong tháng thì can nào đang lệnh sẽ khác nhau, nên luận đoán khác nhau. Khi tam hợp hoặc tam hội thành cục, chính trung khí trong địa chi tàng can được kéo ra và hoá thành một hành mạnh, đó là cơ chế của hợp hoá.
Ứng dụng trong phong thuỷ
Chọn ngày mở móng thường lấy ngày có tàng can sinh trợ mệnh chủ. Khi phương vị bị hung tinh chiếm, người có nghề sẽ dùng chi có tàng can tiết khí hung để hoá giải thay vì chống thẳng. Tham khảo thêm Ngũ hành địa chi trước khi học phép hợp hoá.

Ghi nhớ
- Thìn kho thuỷ nên tàng Quý, Tuất kho hoả nên tàng Đinh.
- Chi tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi luôn tàng một can trường sinh của hành khác.