Lục phá là sáu cặp chi làm sứt mẻ nhau, lực nhẹ hơn xung nhưng đủ khiến việc đang thuận bị dở dang. Cùng với tuyệt trong vòng trường sinh, đây là hai khái niệm hay bị bỏ sót khi học địa chi.

Sáu cặp lục phá
Tý phá Dậu, Ngọ phá Mão, Thân phá Tỵ, Dần phá Hợi, Thìn phá Sửu, Tuất phá Mùi. Chi cách nhau ba ngôi thì thành phá. Phá chủ nứt vỡ ngầm: hợp đồng ký rồi phải sửa, công trình xong rồi phải đập lại một phần, tiền vào rồi hao.
Tuyệt là gì
Trong vòng trường sinh mười hai giai đoạn, tuyệt là chỗ khí đã hết trước khi thai nghén trở lại. Mộc tuyệt tại Thân, hoả tuyệt tại Hợi, kim tuyệt tại Dần, thuỷ và thổ tuyệt tại Tỵ. Chi rơi vào cung tuyệt của hành mệnh thì việc dễ đứt đoạn, sức yếu, khó giữ.
Phân biệt phá, hại và xung
Xung là đối đầu trực diện, hại là tổn thương ngầm, còn lục phá là làm sứt một góc, mất tính trọn vẹn. Ba phép này có thể cùng xuất hiện; khi đó phải xét chi nào vượng, chi nào suy để biết bên nào chịu thiệt.
Ứng dụng
Việc trọng đại như cưới hỏi, nhập trạch, đổ mái nên tránh ngày giờ phá tuổi chủ sự hoặc rơi vào cung tuyệt của mệnh. Nếu bất khả kháng, chọn giờ có tam hợp trợ lực để bù. Xem tiếp Tam hợp địa chi và Lục hại địa chi.

Ghi nhớ
- Lục phá: cách nhau ba ngôi trên vòng địa chi.
- Tuyệt là điểm khí tận, không phải điểm hết hẳn vận.