Lục hại còn gọi là tương hại, gồm sáu cặp địa chi phá hỏng cái hợp của nhau. Hại không ầm ĩ như xung, nhưng âm thầm và dai dẳng.

Sáu cặp lục hại
Tý hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dậu hại Tuất. Cơ chế sinh ra lục hại rất rõ: mỗi chi vốn có một chi lục hợp, kẻ nào xung mất chi lục hợp ấy thì thành kẻ hại. Tý hợp Sửu, mà Mùi xung Sửu, nên Tý hại Mùi.
Ứng nghiệm thường thấy
Lục hại chủ chuyện phía sau lưng: bất hoà trong nhà, người thân trở mặt, bệnh ngấm, kiện tụng nhỏ kéo dài. Trong nhà cửa, phương bị hại thường ứng vào người tương ứng với chi ấy, ví dụ Dậu hại Tuất dễ ứng vào con gái út và người tuổi Tuất.
Nặng nhẹ và cách xử
Lục hại đi kèm lục xung hoặc hình thì nặng lên nhiều lần, đứng một mình thì chỉ là trở ngại nhỏ. Cách hoá thường dùng là bổ chi tam hợp cho bên bị hại, hoặc chọn ngày giờ có chi lục hợp để nối lại quan hệ đã bị cắt.
Khi xem ngày
Ngày giờ lục hại với tuổi chủ sự nên tránh cho việc cưới hỏi, ký kết, nhập trạch. Với việc nhỏ như sửa chữa vặt thì không cần quá câu nệ. Đọc thêm Lục hợp địa chi để hiểu gốc sinh ra lục hại, và Lục xung địa chi để so lực.

Mẹo nhớ
- Hại sinh từ hợp bị xung phá.
- Hại chủ ngầm, xung chủ hiện, hình chủ tự chuốc.