Thiên can hợp hoá là phép hai can cách nhau năm ngôi kết lại với nhau, một dương một âm, có thể hoá thành một hành mới. Đây là phép hợp quan trọng nhất của mười can.

Năm cặp hợp
Giáp hợp Kỷ hoá thổ, gọi là trung chính chi hợp. Ất hợp Canh hoá kim, nhân nghĩa chi hợp. Bính hợp Tân hoá thuỷ, uy chế chi hợp. Đinh hợp Nhâm hoá mộc, dâm nật chi hợp. Mậu hợp Quý hoá hoả, vô tình chi hợp. Mỗi cặp đều một can dương và một can âm, cách nhau đúng năm ngôi trên bảng mười can.
Hợp mà chưa chắc hoá
Thiên can hợp hoá chỉ thành khi hội đủ điều kiện: chi tháng thuộc hành được hoá hoặc sinh cho hành ấy, có can dẫn hoá, và không bị can khác xung khắc chen giữa. Nếu thiếu, hai can chỉ dính nhau, gọi là hợp bán, khí bị trói, việc dùng dằng không tiến.
Hợp có lợi và hợp có hại
Hợp mà hoá ra dụng thần thì như gặp quý nhân, việc thuận, người giúp. Hợp mà hoá ra kỵ thần lại hoá xấu, hoặc hợp mất một can đang gánh vai trò quan trọng thì gọi là hợp trói, mất tác dụng.
Ứng dụng khi chọn ngày
Người làm trạch nhật thường chọn can ngày hợp với can tuổi chủ sự để kéo cát khí. Ngược lại nếu can ngày hợp mất can dụng thần thì bỏ ngày ấy. Xem tiếp Thiên can tương xung và Lục hợp địa chi.

Ghi nhớ
- Cách nhau năm ngôi thì hợp: Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý.
- Hợp là duyên, hoá mới là quả.