12 địa chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đây là hệ đếm cổ dùng để ghi năm, tháng, ngày, giờ và định phương vị trên la bàn. Hiểu 12 địa chi là bước đầu tiên trước khi bước vào trạch nhật, bát tự hay huyền không phi tinh.

Nguồn gốc và cách ghép với thiên can
Mười thiên can Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý ghép lần lượt với 12 địa chi tạo thành lục thập hoa giáp, chu kỳ sáu mươi năm. Vì bội số chung của 10 và 12 là 60 nên mỗi cặp can chi chỉ lặp lại sau sáu mươi đơn vị. Cách ghép này áp dụng đồng nhất cho năm, tháng, ngày và giờ.
Địa chi ứng với tháng và giờ
Tháng Dần là tháng Giêng tính từ tiết Lập Xuân, rồi Mão, Thìn theo thứ tự tiết khí chứ không theo mùng một âm lịch. Giờ Tý từ 23h đến 1h, mỗi chi coi hai giờ đồng hồ. Người xem ngày giờ động thổ phải quy đúng chi tháng theo tiết khí, nếu lấy nhầm theo lịch mặt trăng thì toàn bộ luận đoán sai lệch.
Địa chi trên la bàn
Trên vòng 24 sơn, 12 địa chi chiếm 12 sơn, xen kẽ với tám can và bốn duy. Tý ở chính Bắc, Ngọ ở chính Nam, Mão chính Đông, Dậu chính Tây. Vì vậy 12 địa chi vừa là thời gian vừa là không gian, nối liền chọn ngày với chọn hướng.
Vì sao phải học kỹ
Mọi phép xung, hình, hại, phá, tam hợp, lục hợp đều dựng trên 12 địa chi. Thái Tuế của năm chính là chi năm, Tuế Phá là chi xung. Bạn có thể xem thêm bài Thái Tuế là gì và tra cứu trực tiếp bằng phần mềm trong chuyên mục Phong Thuỷ Đại Cương.

Ghi nhớ nhanh
- Sáu chi dương: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.
- Sáu chi âm: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi.
- Tứ sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Tứ chính: Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Tứ mộ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.