Tìm được long rồi, việc còn lại là chấm đúng điểm. Lệch vài mét là ra khỏi huyệt trường. Cổ nhân quy nạp huyệt về bốn dạng để dễ nhận.
Lý thuyết: bốn dạng và địa hình tương ứng
| Dạng huyệt | Hình dáng | Thường gặp ở |
|---|---|---|
| Oa | Lõm như lòng bàn tay | Sườn núi, thung nhỏ |
| Kiềm | Hai nhánh đất ôm vào | Chân núi, cửa thung |
| Nhũ | Mỏm tròn nhô ra | Cuối mạch, ven đồi |
| Đột | Gò nổi giữa bằng phẳng | Đồng bằng, ven sông |
Nguyên tắc chung: nơi đất cao thì tìm chỗ lõm (oa, kiềm) để tránh gió; nơi đất bằng thì tìm chỗ nổi (nhũ, đột) để tránh ẩm.
Cách tính: sáu bước chấm huyệt
- Đứng ở nhập thủ nhìn xuống, xác định vùng khí có thể dừng.
- Đi bộ khắp vùng, cảm nhận độ chắc của đất dưới chân.
- Tìm điểm có tựa sau chắc nhất và tầm nhìn trước thoáng nhất.
- Kiểm tra bốn phía: gió có lùa qua điểm đó không.
- Đào hố thử xem chất đất, độ ẩm, có mạch nước không.
- Đóng cọc chấm huyệt, để qua một mùa mưa rồi kiểm tra lại ngập úng.
Ứng dụng: những sai lầm khi chấm huyệt
- Chấm ngay trên eo quá giáp — khí còn đang chạy, chưa dừng.
- Chấm quá cao trên sườn — gió mạnh, khí tán.
- Chấm quá thấp dưới chân dốc — nước dồn, ẩm và dễ ngập.
- Chấm ở nơi tầm nhìn đẹp nhưng trống trải bốn bề.
- Chấm theo cảm tính mà bỏ qua đào thử đất.
Ví dụ minh hoạ
Khu đất ven sông đồng bằng gần như phẳng tuyệt đối, chỉ có một gò cao hơn xung quanh 1,2 m, rộng chừng 400 m², cây cối trên gò xanh hơn hẳn — đột huyệt điển hình.
Đào ba hố thử ở mép, giữa và rìa gò: đất ở giữa chắc và khô ráo, hai hố mép có nước rỉ. Chấm huyệt lệch về tâm gò, cách mép ít nhất 8 m.
Nhà chính đặt trên đỉnh gò, nền cao thêm 40 cm; công trình phụ đưa xuống rìa. Mùa mưa năm đó cả vùng ngập 30 cm, riêng nền nhà khô.