Kiến Thức

Kinh Văn Nhị Thập Tứ Sơn — Đoán Ngữ Luận Thuỷ Của Kim Toả Ngọc Quan

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Kinh Văn Nhị Thập Tứ Sơn — Đoán Ngữ Luận Thuỷ Của Kim Toả Ngọc Quan

Đây là phần kinh văn 24 sơn của Kim Toả Ngọc Quan, phần Luận Thuỷ. Mỗi câu đoán ngữ đi kèm bản dịch và lời giải thích; người học nên thuộc nguyên văn rồi mới dùng phần giải để đối chiếu ngoài thực địa.

Luận Thủy

Nhất Bạch Phương: Hậu Thiên Nhâm, Tý, Quý, vị trí Khảm.

Nhâm thủy một nhi lang tiên tuyệt thị nhị phòng hình như nhất tiễn khứ tiểu khẩu mệnh nan trường.

Dịch: Nước ở phương Nhâm không con trai, trước hết tuyệt tự phòng thứ hai. Hình dáng như mũi tên bắn đi, miệng nhỏ thì mệnh khó dài.

Giải thích: Nước chảy thẳng từ phương Nhâm đi (hình như mũi tên) và miệng nước nhỏ (nơi nước chảy ra hẹp) là dấu hiệu xấu cho con trai, đặc biệt là phòng thứ hai dễ tuyệt tự hoặc con cái đoản mệnh.

Hình như hồ lô dạng diệc chủ yêu hoàn thương tứ quý trừng trừng súc vưu chủ lâm noãn nang.

Dịch: Hình dáng như bầu hồ lô cũng chủ về tổn thương vùng eo lưng. Bốn mùa nước trong xanh tích tụ lại càng chủ về bệnh淋卵囊 (bệnh ở bộ phận sinh dục).

Giải thích: Nước ở phương Nhâm có hình dáng uốn lượn như bầu hồ lô là dấu hiệu các bệnh về eo lưng. Nếu nước trong và tù đọng quanh năm ở phương này thì dễ gây các bệnh liên quan đến bộ phận sinh dục.

Tý thủy nhất điều câu lưu khứ bất hồi đầu vô tử thân đào ngoại hung tử nhất bút câu.

Dịch: Nước ở phương Tý một đường rãnh chảy đi không quay đầu lại, không con trai, thân phải bỏ trốn ra ngoài, chết dữ một nét chấm.

Giải thích: Nước từ phương Tý chảy thẳng đi mà không có sự uốn lượn tụ khí là dấu hiệu không có con trai, phải tha hương cầu thực và dễ gặp tai họa chết nơi xứ người. "Nhất bút câu" ý chỉ sự dứt khoát, không thể thay đổi.

Hình như nang đường đại phụ nữ bả mệnh hưu Quý thủy phụ bất dục thường vi phu tu nhục.

Dịch: Hình như túi mật, phụ nữ nắm giữ mệnh suy vong. Nước ở phương Quý phụ nữ khó có con, thường bị chồng khinh miệt.

Giải thích: Nước ở phương Tý có hình dáng như túi (không tròn trịa, tụ khí) thì bất lợi cho nữ giới, dễ đoản mệnh. Nước ở phương Quý ô nhiễm hoặc có vấn đề thì phụ nữ khó mang thai và bị ảnh hưởng đến danh dự gia đình.

Diệc chủ hoàng hạc oán cô đăng độc bạn túc hình nhược bất tề chính do bị bà cô trục.

Dịch: Cũng chủ về nỗi oán của chim hạc vàng, đèn côi một mình bạn giấc. Hình dáng nếu không ngay ngắn chính trực thì dễ bị bà cô đuổi.

Giải thích: Nước ở phương Quý không đẹp, ô nhiễm hoặc chảy xiết còn gây ra sự cô đơn, buồn bã cho nữ giới trong nhà. Nếu hình dáng dòng nước không ngay thẳng còn gây ra sự bất hòa trong gia đình, dễ bị người lớn trong nhà ghét bỏ.

Hình nhược nhất điều thương độc tử phu thường khốc Khảm quái thị uông dương lưu nhược thông lưỡng bàng.

Dịch: Hình như một cây thương độc chết chồng thường khóc. Quẻ Khảm là biển cả mênh mông, nước chảy thông hai bên.

Giải thích: Nước ở phương Khảm chảy thẳng như mũi thương là dấu hiệu gây ra tai họa chết người cho người chồng, khiến vợ góa bụa. Quẻ Khảm tượng trưng cho nước lớn, nếu nước chảy tràn lan không tụ thì không tốt.

Lưu can lão phụ quai lưu Cấn tuấn nhi lang thông minh phạ tự ngộ thân thể toán bất cường.

Dịch: Chảy về phương Càn cha già ương ngạnh, chảy về phương Cấn con trai tuấn tú thông minh nhưng sợ tự làm lỡ dở, thân thể tính không mạnh.

Giải thích: Nếu dòng nước từ phương Khảm chảy về phương Càn (Tây Bắc) thì người cha trong nhà dễ bảo thủ, khó bảo. Nếu chảy về phương Cấn (Đông Bắc) thì con trai thông minh nhưng dễ tự cao tự đại gây hại, sức khỏe không tốt.

Lưu phương thông Tốn vị tuyệt thế trưởng nhị phòng hình như thất nha xoa tài sản bất miên trường.

Dịch: Chảy về phương Tốn vị tuyệt tự trưởng phòng. Phòng thứ hai hình như ngã ba bảy nhánh thì tài sản không bền lâu.

Giải thích: Nếu dòng nước từ phương Khảm chảy về phương Tốn (Đông Nam) thì phòng trưởng dễ tuyệt tự. Nước ở phương Nhâm, Tý, Quý có hình dáng chia cắt như ngã ba nhiều nhánh thì tài sản của phòng thứ hai dễ hao tán.

Nhị Hắc Phương:

Hậu Thiên Khôn, phương vị Mùi, Khôn, Thân.

Mùi thủy xuất đạo tặc sự phạm sản một thu hình nhược tà phi khứ chiến trường tầm thi cốt.

Dịch: Nước ở phương Mùi xuất hiện trộm cướp, sự việc phạm pháp, sản nghiệp bị tịch thu. Hình như bay xiên đi thì ra chiến trường tìm xác.

Giải thích: Nước ô uế hoặc chảy xiên từ phương Mùi là dấu hiệu dễ có trộm cướp, kiện tụng pháp luật dẫn đến mất tài sản, thậm chí có người chết trận nơi xa.

Khôn thủy thương thê phòng hiền phụ bất cửu trường hình nhược phá quân dạng định chủ trướng bệnh vong.

Dịch: Nước ở phương Khôn làm tổn thương phòng vợ, vợ hiền cũng không sống lâu. Hình như sao Phá Quân thì nhất định chủ về bệnh trướng mà chết.

Giải thích: Nước bẩn hoặc có hình dáng xấu ở phương Khôn gây hại cho người vợ, vợ dễ đoản mệnh. Hình dáng nước chảy gấp khúc, không đều đặn như sao Phá Quân (trong Tử Vi) thì chủ về các bệnh về tiêu hóa, bụng trướng dẫn đến tử vong.

Thân thủy thương tiểu nữ diệc chủ khách lộ vong hình như đoàn viên tụ định chủ thị phi nương.

Dịch: Nước ở phương Thân làm tổn thương con gái út, cũng chủ về chết nơi khách lộ. Hình như tròn trịa tụ lại thì nhất định chủ về người đàn bà thị phi.

Giải thích: Nước bẩn hoặc chảy xiết từ phương Thân gây hại cho con gái út, dễ gặp tai nạn chết ở xa nhà. Nếu nước tù đọng, tròn trịa ở phương này thì dễ có người phụ nữ gây chuyện thị phi trong nhà.

Khôn quái thủy đương tiên vu bà tiểu cô tiên lưu thông thần Bính Ngọ nhi lang tử phụ tiền.

Dịch: Nước ở quẻ Khôn đi đầu thì có bà đồng, cô nhỏ tiên. Chảy thông về Bính Ngọ thì con trai chết trước cha.

Giải thích: Nước ở phương Khôn có vấn đề thì dễ có người làm nghề tâm linh (vu bà, cô đồng) trong nhà hoặc có ảnh hưởng đến họ. Nếu nước chảy về hướng Bính Ngọ (chính Nam) thì con trai dễ chết trẻ.

Thủy long nhập Đoài vị âm tà nhất xứ miên hình như tam xoa khẩu phi nhận phụ thân biên.

Dịch: Nước rồng vào phương Đoài vị âm tà một chỗ ngủ. Hình như ngã ba thì dao bay bên cạnh vợ.

Giải thích: Dòng nước uốn lượn như rồng chảy vào phương Đoài (chính Tây) là nơi dễ tụ âm khí xấu. Nếu nước có hình dáng ngã ba thì dễ gây tai họa, thương tích cho người vợ.

Tam Bích Phương:

Hậu Thiên Chấn Quái, phương vị Giáp, Mão, Ất.

Giáp thủy chủ bần cùng trưởng phòng bất hưng long hình nhược tà phi khứ định chủ trưởng tuyệt tung.

Dịch: Nước ở phương Giáp chủ về nghèo khó, trưởng phòng không hưng thịnh. Hình như bay xiên đi thì nhất định chủ về trưởng phòng tuyệt tự.

Giải thích: Nước bẩn hoặc chảy xiên từ phương Giáp gây ra sự nghèo khó, con trưởng khó phát triển và dễ tuyệt tự.

Hoàng thũng đại đẳng trướng đô ứng trưởng phòng cung Mão thủy thuộc đồng nhân tiên phú tiểu tài thần.

Dịch: Các bệnh hoàng thũng, bụng trướng đều ứng vào phòng trưởng. Nước ở phương Mão thuộc Đồng Nhân (hòa hợp), trước giàu có nhỏ rồi mới phát lớn.

Giải thích: Nước ô nhiễm hoặc có vấn đề ở phương Giáp dễ gây ra các bệnh về phù thũng, bụng trướng cho con trưởng. Nước ở phương Mão sạch sẽ, lưu thông tốt thì ban đầu có của nhỏ nhưng sau sẽ phát đạt.

Gia vật tha nhân hữu Bá Đạo tại bản thân hình như phương thâm tụ cận thời đối thành môn.

Dịch: Của cải trong nhà người khác có, Bá Đạo ở bản thân. Hình như vuông sâu tụ lại gần thì đối diện cửa thành.

Giải thích: Nước ở phương Mão có hình dáng vuông vắn, sâu và tụ lại gần nhà thì có thể có của cải nhưng bản thân lại mang tính Bá Đạo, không chính đạo. Nếu gần cửa thành thì có thể bị ảnh hưởng bởi sự ồn ào, náo nhiệt.

Tạm khả bất ngôn hung chung cứu giả dữ chân Ất thủy khúc khúc câu thúc tẩu ám tương thâu.

Dịch: Tạm thời không nói hung, cuối cùng giả với chân. Nước ở phương Ất uốn lượn như móc câu thì chú bác dâu trộm gian.

Giải thích: Nước ở phương Mão có thể tạm thời không có vấn đề lớn nhưng về lâu dài sẽ lộ ra sự giả dối. Nước ở phương Ất có hình dáng ngoằn ngoèo như móc câu là dấu hiệu về sự gian dâm, không chung thủy trong gia đình (chú bác và dâu).

Hình như phá quân dạng can phong bệnh bất hưu Lâm quái chủ vận loạn tài phú bất đáo đầu.

Dịch: Hình như sao Phá Quân thì bệnh gan điên không dứt. Quẻ Lâm chủ vận thế rối loạn, tài phú không đến cuối.

Giải thích: Nước ở phương Ất có hình dáng gấp khúc, không đều đặn như sao Phá Quân thì dễ gây ra các bệnh về gan và thần kinh. Quẻ Lâm (trong Kinh Dịch) ở phương này chủ về vận thế khó khăn, tài lộc không bền.

Chấn quái câu đường phá kỳ gia định tao ương lưu thông thần Tốn địa cung phi Tỵ thứ quá.

Dịch: Rãnh ao ở quẻ Chấn bị phá thì nhà đó nhất định gặp tai ương. Chảy thông về phương Tốn, cung phi Tỵ thứ qua.

Giải thích: Nước ở phương Giáp, Mão, Ất bị ô nhiễm, tù đọng hoặc có hình dáng xấu thì gia đình dễ gặp tai họa. Nếu chảy về phương Tốn (Đông Nam) thì có thể gây ra những vấn đề liên quan đến cung phi (vợ) và địa chi Tỵ (con rắn, cũng chỉ hướng Đông Nam).

Cấn thủy nhược giao hội huynh đệ thời mục nộ.

Dịch: Nước ở phương Cấn nếu giao hội thì anh em thời mục nộ (mắt giận dữ).

Giải thích: Nếu nước từ phương Chấn chảy sang phương Cấn (Đông Bắc) có thể gây ra sự bất hòa, tranh cãi giữa anh em trong nhà.

Tứ Lục Phương:

Hậu Thiên Tốn Quái, phương vị Thìn, Tốn, Tỵ.

Thìn thủy đạo tặc lai sao gia tịnh thưởng tài hình nhược nhất điều thương mệnh nhân ác tử mai.

Dịch: Nước ở phương Thìn trộm cướp đến lục soát nhà và cướp tài sản. Hình như một cây thương thì mệnh chết vì ác.

Giải thích: Nước bẩn hoặc chảy thẳng như mũi thương từ phương Thìn là dấu hiệu dễ bị trộm cướp, thậm chí có người chết vì tai họa bất ngờ.

Hình như đường tam giác quân tặc mệnh chi cai hình vi đô bất chính thưởng kiếp khai tâm hoài.

Dịch: Hình như ao tam giác thì mệnh làm quân trộm. Hình dáng đều không chính thì cướp bóc vui vẻ trong lòng.

Giải thích: Nước ở phương Thìn có hình tam giác nhọn là dấu hiệu dễ có người làm nghề phi pháp, trộm cướp. Hình dáng nước lộn xộn, không ngay thẳng thì dễ sinh tâm địa xấu xa, thích cướp bóc.

Mại thủy nữ dâm loạn tính thiên ái lão lang hình như áp công cước công tức cộng nhất sàng.

Dịch: Nước bán dâm nữ dâm loạn tính thiên ái lão lang. Hình như chân vịt đực thì bố chồng nàng dâu chung một giường.

Giải thích: Nước ở phương Thìn ô uế, tù đọng là dấu hiệu về sự dâm loạn của phụ nữ trong nhà, thích người lớn tuổi. Hình dáng nước chia nhánh như chân vịt đực là dấu hiệu về sự loạn luân trong gia đình (bố chồng và con dâu).

Hình nhược phi tà khứ tư bôn đáo dị hương khẩu thiệt nhân thử khởi hưng tụng đáo công đường.

Dịch: Hình như bay xiên đi thì tư tình bỏ trốn đến xứ lạ. Miệng lưỡi vì thế mà nổi lên kiện tụng đến công đường.

Giải thích: Nước ở phương Tốn chảy xiên, không tụ là dấu hiệu về sự bỏ trốn theo tình nhân đến nơi xa, dễ gây ra tranh chấp, kiện tụng.

Tỵ thủy phối thốc lang tăng nhân nhập hương phòng phu nhược đầu vô phát giả phu giả cửu trường.

Dịch: Nước ở phương Tỵ phối với người hói, tăng nhân vào phòng hương (phòng phụ nữ). Chồng nếu đầu không tóc thì chồng giả dối lâu dài.

Giải thích: Nước ô uế ở phương Tỵ là dấu hiệu về sự cô đơn, có thể có người tu hành lui tới hoặc người chồng không thật lòng, giả dối trong hôn nhân.

Hình nhược thất bát nha Tần lâu Sở quán nương Tốn quái mãn thủy uông xuất nhân vi phỉ cuồng.

Dịch: Hình như bảy tám nhánh thì gái lầu xanh. Quẻ Tốn đầy nước mênh mông thì sinh ra người làm giặc điên cuồng.

Giải thích: Nước ở phương Tốn có nhiều nhánh nhỏ, không tụ là dấu hiệu về những người phụ nữ làm trong chốn ăn chơi. Nếu phương Tốn có nước lớn, tù đọng thì dễ sinh ra người hung hãn, làm điều phi pháp.

Cật hát dữ phiêu đổ tham luyến tương gia vong thủy nhược lưu nhập Khảm tất định thưởng dư nương.

Dịch: Ăn uống và cờ bạc, tham luyến làm mất nhà. Nước nếu chảy vào phương Khảm nhất định cướp vợ người.

Giải thích: Nước ô uế ở phương Tốn là dấu hiệu về sự ham mê tửu sắc, cờ bạc dẫn đến phá sản. Nếu nước từ phương Tốn chảy về phương Khảm (chính Bắc) thì dễ có chuyện tranh giành tình ái, cướp vợ người.

Thủy như lưu Khôn địa cá cá thương thê phòng lưu thông thần đáo Càn tiểu nữ tất vi xương.

Dịch: Nước như chảy về phương Khôn thì mọi người đều thương phòng vợ. Chảy thông đến phương Càn thì con gái út ắt làm gái điếm.

Giải thích: Nước bẩn từ phương Tốn chảy về phương Khôn (Tây Nam) thì dễ gây ra những vấn đề bất lợi cho người vợ trong gia đình. Nếu chảy về phương Càn (Tây Bắc) thì con gái út dễ sa vào con đường mại dâm.

Tối phạ tụ Chấn vị nhi lang vãng Tây phương.

Dịch: Sợ nhất tụ ở phương Chấn thì con trai đi về phương Tây (chết).

Giải thích: Nước tù đọng, ô uế ở phương Tốn mà lại tụ về phương Chấn (chính Đông) thì rất xấu cho con trai, dễ đoản mệnh.

Hậu Thiên Càn Quái, phương vị Tuất, Càn, Hợi.

Đơn Tuất thủy thổ hào gia ám thông phỉ loại tính như ma.

Dịch: Nước ở riêng phương Tuất nhà giàu ngầm thông với phường trộm cướp, tính như gai dầu (khó gỡ).

Giải thích: Nước bẩn hoặc có vấn đề ở riêng phương Tuất (Tây Bắc) là dấu hiệu gia đình giàu có nhưng lại cấu kết với những kẻ bất lương, tính tình khó thay đổi.

Hình phá quân tù quan nha thê tử giả hoại bất cứu tha.

Dịch: Hình như sao Phá Quân thì bị tù ngục quan nha, vợ giả dối hư hỏng không cứu được.

Giải thích: Nước ở phương Tuất có hình dáng gấp khúc, không đều đặn như sao Phá Quân thì dễ vướng vào vòng lao lý. Vợ chồng không hòa thuận, giả dối và khó cứu vãn.

Càn thủy trường tối vi lương lão phụ hưng gia thọ nhi khang. Thuộc khoan đại tất quan lang thiếu tử hồi gia cận đạo bàng.

Dịch: Nước ở phương Càn dài là tốt nhất, cha già hưng thịnh gia đạo, sống lâu khỏe mạnh. Thuộc tính rộng rãi ắt có con làm quan, con út về nhà gần đường cái.

Giải thích: Nước ở chính phương Càn (Tây Bắc) chảy dài, trong sạch là dấu hiệu tốt cho người cha, gia đình hưng vượng, người lớn tuổi sống lâu. Tính cách mọi người rộng lượng, con cái dễ làm quan và con út có xu hướng sống gần nhà.

Hình khúc khúc Tỵ hiện quang độc thư tựu hữu thanh danh dương.

Dịch: Hình uốn lượn có ánh sáng (trong sạch), đọc sách ắt có tiếng tăm vang dội.

Giải thích: Nước ở phương Càn có hình dáng uốn lượn nhẹ nhàng, trong sạch thì con cái học hành giỏi giang, có danh tiếng tốt.

Hợi thủy đường phương đoàn uông thiên sinh tiểu nhi dạ khốc tức. Thiên hoàng hoàng địa hoàng hoàng bất phạm Hợi thủy thọ mệnh trường.

Dịch: Nước ở phương Hợi ao vuông tròn đầy thì con nhỏ sinh ra hay khóc đêm. Trời cao đất dày, không phạm nước Hợi thì tuổi thọ dài.

Giải thích: Nước ở phương Hợi (Tây Bắc) có ao hình vuông hoặc tròn đầy là dấu hiệu trẻ con mới sinh hay quấy khóc. Nếu phương Hợi không có nước ô uế hoặc hình dáng xấu thì gia đình sống lâu. "Thiên hoàng hoàng địa hoàng hoàng" ý chỉ sự tôn kính và tầm quan trọng của yếu tố này.

Càn quái toàn thị thủy bất hiềm đoản dữ trường tại thiên như Khuê chiếu tại địa vi Văn Xương. Vô luận âm dương trạch ngộ chi phát kỳ tường hình nhược bất tà phi vi quan thanh danh hương.

Dịch: Quẻ Càn toàn là nước không ngại ngắn hay dài, ở trên trời như sao Khuê chiếu, ở dưới đất là Văn Xương (sao chủ học vấn, danh tiếng). Bất luận là âm trạch hay dương trạch gặp được đều phát điềm lành. Hình dáng nếu không xiên lệch thì làm quan có tiếng thơm.

Giải thích: Nếu toàn bộ phương Càn có nước trong sạch, dù dài hay ngắn đều tốt. Nó tượng trưng cho sự chiếu sáng của sao Khuê trên trời và khí Văn Xương dưới đất, mang lại may mắn cho cả nhà ở và mồ mả. Nếu dòng nước không chảy xiên lệch thì con cái dễ làm quan và có danh tiếng tốt.

Tóm lại: Đoạn kinh văn này mô tả các ảnh hưởng của nước ở các phương vị Tuất, Càn, Hợi (thuộc quẻ Càn) đến vận khí và các thành viên trong gia đình. Nước sạch sẽ, chảy dài hoặc tụ tròn ở phương Càn thường mang lại điềm lành về tài lộc, sức khỏe, học vấn và danh tiếng. Ngược lại, nước bẩn, tù đọng hoặc có hình dáng xấu ở các phương vị này có thể gây ra những vấn đề về tài chính, sức khỏe, pháp lý và các mối quan hệ trong gia đình. Đặc biệt, phương Hợi liên quan đến sức khỏe và sự quấy khóc của trẻ nhỏ, còn phương Càn tốt cho người cha và sự nghiệp của con cái.

Từ khoá: kinh văn nhị thập · ["kinh văn 24 sơn" · "luận thuỷ kim toả ngọc quan" · "đoán ngữ luận thuỷ" · "quá lộ âm dương" · "kim toả ngọc quan"

Bài viết liên quan

Bình luận

để gửi bình luận.