Kiến Thức

Kinh Văn Nhị Thập Tứ Sơn — Đoán Ngữ Luận Sa Của Quá Lộ Âm Dương

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Kinh Văn Nhị Thập Tứ Sơn — Đoán Ngữ Luận Sa Của Quá Lộ Âm Dương

Phần thứ hai của kinh văn 24 sơn: Luận Sa. Sa là gò đống, nhà cao, cây lớn, núi non — tất cả vật thể cao và tĩnh quanh trạch. Cùng một sơn, Sa và Thuỷ cho hai kết quả trái ngược, nên phải đọc song song hai bài.

Luận Sa ♥

Nhất Bạch Phương:

Hậu Thiên Khảm Quái, phương vị Nhâm, Tý, Quý.

Nhâm sa phát võ quý tú phong cao đại vị xuất nhập giai bị hữu đại danh chấn hải nội.

Dịch: Sa ở phương Nhâm phát quý về võ nghiệp, núi đẹp cao lớn thì ra người có địa vị, xuất nhập tốt đẹp, có danh tiếng lớn vang dội trong nước.

Giải thích: Gò đất, núi non đẹp, cao lớn ở phương Nhâm (chính Bắc) là dấu hiệu tốt cho sự nghiệp võ nghiệp, người trong nhà có địa vị cao, giao tiếp rộng rãi và nổi tiếng.

Tái đắc Bính thủy chiếu nhi tôn dĩ văn hội Tý sa định phát phú gia hữu kim tiền khố.

Dịch: Lại được nước ở phương Bính chiếu thì con cháu giỏi văn chương. Sa ở phương Tý nhất định phát giàu, nhà có kho tiền.

Giải thích: Nếu phương Nhâm có sa đẹp mà lại có nước ở phương Bính (chính Nam) chiếu vào thì con cháu thông minh, giỏi văn học. Gò đất ở phương Tý (chính Bắc) ổn định, đẹp thì gia đình giàu có, tiền bạc dư dả.

Hình nhược kiêm Phá Quân hưng gia thị quả phụ viễn cận Ngọ thủy chiếu xú danh diệc bất cố.

Dịch: Hình như sao Phá Quân thì góa phụ hưng gia. Xa gần có nước ở phương Ngọ chiếu thì tiếng xấu cũng không màng.

Giải thích: Nếu gò đất ở phương Nhâm có hình dáng lởm chởm như sao Phá Quân thì người phụ nữ góa bụa có thể gây dựng cơ nghiệp. Dù có nước ở phương Ngọ (chính Nam) chiếu vào (thường không tốt), họ cũng không quan tâm đến tiếng xấu.

Quý sa nữ đương gia phát tại thượng nguyên hoa bất vấn nam hòa Hán cụ nội định số tha.

Dịch: Sa ở phương Quý nữ làm chủ nhà, phát đạt vào thượng nguyên. Không kể nam hay Hán (ý chỉ đàn ông), sợ vợ là số định của họ.

Giải thích: Gò đất ổn định ở phương Quý (chính Bắc) thì phụ nữ nắm quyền trong nhà, gia đình phát đạt trong vận đầu. Đàn ông trong nhà có xu hướng sợ vợ.

Viễn cận Đinh thủy tú đinh tài túc khả khoa hình nhược hồ lô dạng ải lang yếu phạ tha.

Dịch: Xa gần có nước ở phương Đinh đẹp thì con cái và tài lộc đủ để khen. Hình như bầu hồ lô thì người đàn ông thấp bé phải sợ vợ.

Giải thích: Nếu phương Quý có sa đẹp mà lại có nước ở phương Đinh (chính Nam) chiếu vào thì con cái thông minh, tài lộc dồi dào. Nếu gò đất có hình bầu hồ lô thì người chồng thấp bé dễ bị vợ lấn át.

Khảm quái sa kiêm hữu hình yếu thoa tử dạng bất vấn âm dương trạch khúc bão tại kỳ trung. Lập vấn nghi lưu ý bất yếu bức áp cung cách khê tịnh cách thủy kiến chi bất vi hung.

Dịch: Quẻ Khảm có cả sa và hình dáng như con thoi thì bất luận âm dương trạch đều được ôm ấp ở giữa. Khi xem xét cần lưu ý, không nên bị bức áp cung. Cách khe và cách nước thấy thì không phải là hung.

Giải thích: Nếu phương Nhâm, Tý, Quý có gò đất hình con thoi bao bọc thì tốt cho cả nhà ở và mồ mả. Cần xem xét vị trí để tránh bị gò đất khác chèn ép. Nếu có khe nước hoặc sông suối ngăn cách thì không đáng lo ngại.

Hình như trung nhiên đoạn danh vi hàn thấu phong Đinh tổn tài diệc hao định chủ bất phong long. Nhược vô Ly thủy chiếu cô khổ bất bần cùng.

Dịch: Hình như ở giữa bị đứt đoạn gọi là hàn thấu phong (gió lạnh thấu xương), phương Đinh tổn tài hao của nhất định không hưng thịnh. Nếu không có nước ở phương Ly chiếu thì cô độc nhưng không nghèo.

Giải thích: Gò đất ở phương Khảm bị đứt đoạn ở giữa là dấu hiệu xấu, gây ra sự lạnh lẽo, cô đơn và tổn hao tài sản. Nếu không có nước ở phương Ly (chính Nam) chiếu vào thì người trong nhà cô độc nhưng không đến nỗi nghèo khó.

Nhị Hắc Phương:

Hậu Thiên Khôn Quái, phương vị Mùi, Khôn, Thân.

Mùi sa năng phát tài hành vi bất chính lai quân tặc dữ thổ phỉ danh xú thông lục nhai. Hình nhược danh tịch tú Sửu thủy chiếu đương hoài dã khả trí điền trang nông gia lạc hòa hài.

Dịch: Sa ở phương Mùi năng phát tài nhưng hành vi không chính đáng, ra quân trộm cướp và thổ phỉ, danh tiếng xấu khắp phố phường. Hình như sao Mão sáng sủa, có nước ở phương Sửu chiếu thì nên giữ gìn, cũng có thể mua được ruộng đất, nhà nông vui vẻ hòa thuận.

Giải thích: Gò đất ở phương Mùi (Tây Nam) có thể mang lại tiền bạc nhưng thường bằng con đường bất chính. Nếu có hình dáng đẹp như sao Mão và được nước ở phương Sửu (Đông Bắc) chiếu thì nên sống lương thiện, có thể có cuộc sống điền viên an nhàn.

Khôn sa điệp điệp khởi chân thị thượng nguyên hoa phụ nữ trì gia chánh bả tửu hát tang ma. Nữ nhi cá cá tuấn phát phúc khánh vạn niên nhược đắc Cấn thủy chiếu huyết tài phát vô nhai.

Dịch: Sa ở phương Khôn chồng chất nổi lên thật là hoa của thượng nguyên, phụ nữ nắm giữ chính sự trong nhà, uống rượu hát hò vui vẻ. Con gái ai nấy xinh đẹp, phát phúc khánh vạn niên, nếu được nước ở phương Cấn chiếu thì tiền bạc dồi dào vô kể.

Giải thích: Nhiều gò đất đẹp ở phương Khôn (Tây Nam) là dấu hiệu tốt cho phụ nữ nắm quyền trong nhà, gia đình hòa thuận, vui vẻ và phát đạt trong vận đầu. Nếu có nước ở phương Cấn (Đông Bắc) chiếu thì tài lộc càng thêm vượng.

Bất hứa hình Phá Quân thất quyền dữ phi tà Thân sa nữ nhi mỹ viên diện dữ trường thối. Hình nhược kiêm tú khởi cần năng thông nghĩa lý nhược dữ Dần thủy chiếu đan thanh họa ưu mỹ.

Dịch: Không được hình Phá Quân nắm quyền và xiêu vẹo. Sa ở phương Thân con gái đẹp mặt tròn và chân dài. Hình như có tú khí thì cần cù thông hiểu đạo lý, nếu có nước ở phương Dần chiếu thì vẽ tranh rất đẹp.

Giải thích: Gò đất ở phương Khôn không nên có hình dáng lởm chởm như sao Phá Quân. Gò đất đẹp ở phương Thân (Tây Nam) thì con gái xinh đẹp. Nếu có tú khí và được nước ở phương Dần (Đông Bắc) chiếu thì người trong nhà cần cù, hiểu biết và có tài hội họa.

Khôn sa sa hoàn toàn kim thành nhất chiếu miên thượng trung đinh tài thịnh gia phú tích ngân tiền. Như đắc Cấn thủy chiếu phúc thọ hựu song toàn cục đại quan thanh chính nội trợ hữu danh hiền.

Dịch: Sa ở phương Khôn hoàn chỉnh như thành vàng chiếu rọi thì con cái và tài lộc ở thượng trung nguyên đều thịnh vượng, nhà giàu tích trữ tiền bạc. Nếu được nước ở phương Cấn chiếu thì phúc thọ lại song toàn, cục diện lớn thì quan thanh liêm, vợ hiền nổi tiếng.

Giải thích: Nếu toàn bộ phương Khôn có gò đất đẹp, vững chắc như thành vàng thì gia đình hưng thịnh về con cái và tài lộc trong các vận đầu và giữa. Nếu có thêm nước tốt ở phương Cấn thì gia đình vừa giàu có vừa sống lâu, người làm quan thì thanh liêm, vợ đảm đang nổi tiếng.

Tam Bích Phương:

Hậu Thiên Chấn Quái, phương vị Giáp, Mão, Ất.

Nhất mã bất đoạn Giáp long cung thượng trung thời thế đại cát phong. Nhược đắc Canh Dậu ba lãng khởi quản giáo thuận lợi vận bất cùng.

Dịch: Một con ngựa không đứt ở cung Giáp (phương Đông) thì thượng trung thời thế đại cát phong. Nếu được sóng nước ở phương Canh Dậu nổi lên thì quản lý thuận lợi, vận không cùng.

Giải thích: Gò đất dài liên tục ở phương Giáp (chính Đông) là dấu hiệu tốt cho sự phát triển trong các vận đầu và giữa. Nếu có nước chảy gợn sóng ở phương Canh (Tây) hoặc Dậu (chính Tây) thì mọi việc suôn sẻ, vận may không dứt.

Nhược tại hồ trung liên thiên dũng định thị giao nga ảnh nhạn trung.

Dịch: Nếu ở giữa hồ nối liền trời thì nhất định là hình ảnh chim nga giao nhau giữa đàn nhạn.

Giải thích: Địa hình có gò đất nổi lên giữa hồ nước rộng lớn thì là dấu hiệu tốt, tượng trưng cho sự hòa hợp và thịnh vượng.

Mão sa năng trí phú huyết tài phát vô nhai trưởng tử phong tứ hải tính hảo thải dã hoa. Hình nhược kỷ án củng uy danh chấn tam thông hình như kê trảo dạng quân tặc sản kỳ gia.

Dịch: Sa ở phương Mão năng làm giàu, tiền bạc dồi dào vô kể, trưởng tử phong lưu khắp bốn biển, tính thích chơi bời. Hình như án thư thì uy danh lẫy lừng khắp nơi, hình như chân gà thì nhà sinh ra quân trộm cướp.

Giải thích: Gò đất đẹp ở phương Mão (chính Đông) mang lại sự giàu có lớn cho gia đình, con trưởng có thể phong lưu nhưng thích hưởng thụ. Nếu gò đất có hình như bàn học thì con trưởng có danh tiếng. Nếu hình như chân gà thì nhà dễ có người làm việc phi pháp.

Nhược chiếu đơn Dậu thủy đa sinh nữ oa oa Ất sa phát văn chương kỷ cá độc thư lang. Hình thế triều thiên khởi vi quan danh chấn dương hình như hốt bút dạng hàn mặc tự diệc hương.

Dịch: Nếu có nước ở riêng phương Dậu chiếu thì sinh nhiều con gái. Sa ở phương Ất phát về văn chương, có vài người con trai học hành. Hình thế hướng lên trời thì làm quan nổi tiếng, hình như hốt bút thì chữ nghĩa cũng thơm.

Giải thích: Nếu chỉ có nước ở phương Dậu (chính Tây) chiếu vào phương Mão thì dễ sinh nhiều con gái. Gò đất đẹp ở phương Ất (Đông) thì con cái giỏi văn chương. Địa hình có gò đất hướng lên cao thì người trong nhà làm quan nổi tiếng. Gò đất hình như cây hốt (dụng cụ quan lại xưa) thì người có tài viết lách.

Nhược ngộ Tân thủy chiếu vưu chủ nội hiền lương Chấn phương toàn thể sa văn võ cộng hưng gia. Nhược phối Càn Đoài thủy thượng trung nhất tiên hoa hình yếu Tham Lang dạng nhân tú phân ngoại gia.

Dịch: Nếu gặp nước ở phương Tân chiếu thì càng chủ về vợ hiền lương. Toàn bộ phương Chấn có sa thì văn võ đều hưng thịnh cả nhà. Nếu phối với nước ở phương Càn Đoài thì thượng trung như hoa tươi, hình dáng như Tham Lang thì người đẹp khác thường.

Giải thích: Nếu phương Ất có sa đẹp mà được nước ở phương Tân (Tây Bắc) chiếu thì vợ đảm đang hiền thục. Nếu cả phương Giáp, Mão, Ất đều có gò đất đẹp thì gia đình vừa có người làm quan văn vừa có người làm quan võ, đều hưng thịnh. Nếu có thêm nước ở phương Càn (Tây Bắc) hoặc Đoài (chính Tây) thì gia đình như hoa tươi trong vận đầu và giữa, gò đất hình Tham Lang (sao tốt trong phong thủy) thì người trong nhà đẹp đẽ, tài giỏi.

Đây là phần giải thích chi tiết về các đoạn kinh văn "Luận Sa" trong "Quá Lộ Âm Dương Đoán Quái Y Cứ" ở các phương vị Nhất Bạch, Nhị Hắc và Tam Bích. Hy vọng nó giúp bạn hiểu rõ hơn về cách trường phái này đánh giá ảnh hưởng của địa hình (Sa) đến vận khí.

Tứ Lục Phương:

Hậu Thiên Tốn Quái, phương vị Thìn, Tốn, Tỵ.

Thìn sa tuy phát phú phỉ nhân kỳ gia trụ tài nguyên bất chính lai danh xú dã bất cố. Lục thân quân vô trợ tương phùng tự hành lộ hình nhược phá toái tà phạ tao phi mệnh cố.

Dịch: Sa ở phương Thìn tuy phát giàu nhưng kẻ gian ở trong nhà, nguồn tài chính không chính đáng, danh tiếng xấu cũng không màng. Lục thân đều không giúp đỡ, gặp nhau như người xa lạ, hình như sứt mẻ xiêu vẹo sợ gặp tai họa chết bất đắc kỳ tử.

Giải thích: Gò đất ở phương Thìn (Đông Nam) dù mang lại giàu có nhưng thường do làm ăn bất chính, người trong nhà có thể là kẻ gian. Mối quan hệ với người thân lạnh nhạt. Địa hình gò đất lởm chởm, xiêu vẹo là điềm báo tai nạn bất ngờ.

Tốn sa nữ chủ gia thôn lân tán hứa tha hình như Tham Lang dạng nam nữ đại danh đỉnh. Nhược đắc Càn thủy chiếu định phát thượng nguyên hoa Tỵ sa văn thư phát trung tử xưng mỹ hào.

Dịch: Sa ở phương Tốn nữ làm chủ nhà, xóm giềng khen ngợi. Hình như sao Tham Lang thì cả nam nữ đều có danh tiếng lớn. Nếu được nước ở phương Càn chiếu thì nhất định phát đạt trong thượng nguyên. Sa ở phương Tỵ phát về văn thư, con thứ được khen là hào kiệt.

Giải thích: Gò đất đẹp ở phương Tốn (Đông Nam) thì phụ nữ đảm đang, được mọi người quý mến. Hình dáng gò đất đẹp như sao Tham Lang thì con cái có danh tiếng. Nếu có nước tốt ở phương Càn (Tây Bắc) chiếu thì gia đình phát đạt trong vận đầu. Gò đất đẹp ở phương Tỵ (Đông Nam) thì con thứ giỏi văn chương, có danh vọng.

Hình như xích xà nhiễu quan thanh tự nhĩ tào hình nhược hồ lô dạng hữu tử hữu phương trượng. Hình nhược tiêm phong khởi tài cao danh thanh đại Tốn vị sa hoàn toàn chính trợ thượng trung hạ.

Dịch: Hình như rắn đỏ quấn thì làm quan thanh liêm như bậc ngươi. Hình như bầu hồ lô thì có con có chức vị cao. Hình như ngọn núi nhọn thì tài cao danh lớn. Phương Tốn có sa hoàn chỉnh ngay chính thì trợ giúp tốt cho cả thượng, trung, hạ nguyên.

Giải thích: Gò đất uốn lượn đẹp ở phương Tỵ thì người làm quan thanh liêm. Hình bầu hồ lô thì gia đình có con cái và người có địa vị. Hình nhọn thì người có tài năng và danh tiếng. Nếu toàn bộ phương Tốn có gò đất đẹp, ngay thẳng thì tốt cho cả ba vận.

Vi nhân cát hạnh phúc thử xứ bốc trung miên nhược đắc Càn Ngọ thủy phụ tử danh thanh hiền. Vi quan quan dã chính bất tham nhân dân tiền.

Dịch: Làm người cát tường hạnh phúc, nơi đây chọn để an táng thì tốt. Nếu được nước ở phương Càn Ngọ thì cha con đều có danh tiếng hiền đức. Làm quan thì quan cũng chính trực, không tham tiền của dân.

Giải thích: Gò đất đẹp ở phương Tốn là nơi tốt để xây nhà hoặc an táng, mang lại may mắn. Nếu có nước tốt ở phương Càn (Tây Bắc) hoặc Ngọ (chính Nam) chiếu thì cha con đều có danh tiếng tốt. Người làm quan thì liêm chính.

Lục Bạch Phương:

Hậu Thiên Càn Quái, phương vị Tuất, Càn, Hợi.

Tuất sa hào đại tinh định chủ hồi lộc kinh hình nhược kiêm phá toái diệc phạ cổ bồn ngâm. Hình như phản môn bối vi tư bất đầu quân nhược ngộ Thìn thủy chiếu nghịch thủy loạn hồ hành.

Dịch: Sa ở phương Tuất là sao xấu lớn, nhất định chủ về hỏa hoạn kinh hoàng. Hình như sứt mẻ thì cũng sợ tiếng khóc vợ chết. Hình như cửa quay lưng thì vì tư lợi không tòng quân. Nếu gặp nước ở phương Thìn chiếu thì nghịch nước đi loạn xạ.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Tuất (Tây Bắc) dễ gây ra hỏa hoạn. Nếu lởm chởm thì sợ vợ chết. Hình như cửa quay lưng thì người trong nhà vì lợi ích cá nhân mà không theo chính đạo. Nếu có nước xấu ở phương Thìn (Đông Nam) chiếu thì làm ăn rối ren, không thuận lợi.

Càn sa lão phụ thương tiểu tử lệ uông uông hình nhược phá quân dạng diệc chủ phi mệnh vong. Hình nhược đơn trướng lộ nhân Tốn tư khứ nương Tốn thủy chước tỉnh dạng công tức cộng nhất sàng.

Dịch: Sa ở phương Càn làm tổn thương cha già, con nhỏ khóc ròng rã. Hình như sao Phá Quân thì cũng chủ về chết bất đắc kỳ tử. Hình như đường đi đơn độc thì người phương Tốn tư thông với mẹ. Nước ở phương Tốn hình như giếng thì bố chồng nàng dâu chung một giường.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Càn (Tây Bắc) gây hại cho người cha và con cái. Hình dáng lởm chởm thì dễ chết bất ngờ. Hình như đường đi một mình thì có chuyện loạn luân. Nước xấu ở phương Tốn có hình như giếng thì loạn luân trong nhà.

Hợi sa thiên hoàng hoàng gia sinh dạ đề lang hình nhược thập trượng khởi phát phú bất cửu trường. Tỵ thủy phương hình chiếu tăng nhân nhập hương phòng phu quân phối thốc tử xú danh bất khả dương.

Dịch: Sa ở phương Hợi (Tây Bắc) nhà sinh con hay khóc đêm. Hình như cao mười trượng thì phát giàu không bền. Nước ở phương Tỵ hình vuông chiếu thì sư sãi vào phòng hương (phòng phụ nữ). Chồng phối với người hói thì tiếng xấu không thể giấu.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Hợi thì trẻ con hay khóc đêm. Hình quá cao thì giàu nhanh nhưng không bền. Nước xấu ở phương Tỵ (Đông Nam) chiếu thì có chuyện liên quan đến tu hành và tình ái bất chính. Chồng lấy người không tóc thì tiếng xấu lan xa.

Càn phương nhất thể sa thượng trung thời bại gia lão phụ tâm vô chủ hành sự loạn như để. Tái ngộ Thìn Tốn thủy hạnh nhân dã đào hoa tử tức trưởng thiểu tuyệt định thị sa phi tà.

Dịch: Toàn bộ phương Càn có sa thì thượng trung vận bại gia, cha già không chủ kiến, làm việc rối ren. Lại gặp nước ở phương Thìn Tốn thì con cái ít ỏi hoặc tuyệt tự, nhất định là do sa xiêu vẹo.

Giải thích: Nếu cả phương Tuất, Càn, Hợi đều có gò đất xấu thì gia đình suy bại trong các vận đầu và giữa, người lớn tuổi mất phương hướng. Nếu lại có nước xấu ở phương Thìn (Đông Nam) hoặc Tốn (Đông Nam) chiếu thì con cái khó khăn, dễ tuyệt tự do địa hình xấu.

Thất Xích Phương:

Hậu Thiên Đoài Quái, phương vị Canh, Dậu, Tân.

Canh sa nhạ họa đoan sát đáo chủ kiến quan Giáp thủy đối quan chiếu trưởng tử tuyệt tự hoàn. Hình nhược phi nhận hạ thị phi náo bất phát Dậu sa trực ngạnh lai xú danh hoài tư thai.

Dịch: Sa ở phương Canh gây tai họa, sát đến chủ gặp quan. Nước ở phương Giáp đối chiếu thì trưởng tử tuyệt tự hoàn toàn. Hình như dao bay xuống thì thị phi náo loạn không ngừng. Sa ở phương Dậu cứng thẳng thì tiếng xấu mang thai riêng.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Canh (Tây) dễ gây ra kiện tụng, tai họa. Nếu có nước xấu ở phương Giáp (Đông) chiếu thì con trưởng tuyệt tự. Hình như dao bay thì nhiều chuyện thị phi. Gò đất cứng thẳng ở phương Dậu (chính Tây) thì tiếng xấu về chuyện mang thai ngoài giá thú.

Ách nhi nhân thử xuất độc nhập khẩu nan khai trưởng tử đa trảm tự tuyệt triều hữu sầu hoài. Mão thủy tái đối chiếu định thị yếu phá tài Tân sa chủ phế lao y dược bệnh nan điều.

Dịch: Con câm vì thế mà ra, độc vào miệng khó mở. Trưởng tử nhiều người bị chém giết, tuyệt tự, sớm có buồn rầu. Nước ở phương Mão lại đối chiếu thì nhất định phá tài. Sa ở phương Tân (Tây Bắc) chủ về bệnh lao phổi, thuốc thang khó chữa.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Dậu có thể gây ra con câm điếc, bệnh tật khó chữa. Con trưởng dễ gặp tai họa chết chóc, tuyệt tự. Nếu có nước xấu ở phương Mão (Đông) chiếu thì hao tài tốn của. Gò đất xấu ở phương Tân gây ra bệnh về phổi khó chữa.

Hình nhược tiêm đao hạ can bệnh yên nan đào tái ngộ Ất thủy chiếu tiểu khẩu tự phong diêu. Đoài sa sa mãn hiện tử cung nan minh kiến trường thiệt phụ nữ hữu nam nữ bả thiên oán.

Dịch: Hình như dao nhọn xuống thì bệnh gan khó tránh. Lại gặp nước ở phương Ất chiếu thì con nhỏ như gió lay. Sa ở phương Đoài đầy thì tử cung khó thấy (hiếm muộn), đàn bà lắm lời có cả nam nữ oán trời.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Tân có hình nhọn thì dễ mắc bệnh gan. Nếu có nước xấu ở phương Ất (Đông) chiếu thì con cái yếu ớt. Nếu cả phương Canh, Dậu, Tân đều có gò đất xấu thì khó có con, đàn bà lắm chuyện, cả nam nữ đều bất mãn.

Quan phi thời bất đoạn tâm điền bất lương thiện tái chiếu Thìn Tốn thủy gian hoạt bách trá biến.

Dịch: Quan phi không dứt, tâm địa không lương thiện, lại chiếu nước ở phương Thìn Tốn thì gian xảo trăm mưu nghìn kế.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Đoài gây ra kiện tụng liên miên, người trong nhà tâm địa xấu. Nếu lại có nước xấu ở phương Thìn (Đông Nam) hoặc Tốn (Đông Nam) chiếu thì càng thêm gian xảo, xảo quyệt.

Bát Bạch Phương:

Hậu Thiên Cấn Quái, phương vị Sửu, Cấn, Dần.

Sửu sa vi tặc đạo danh bị tha nhân cáo hình nhược tha đao dạng đồ phu thủ khoái diệu. Thiếu nam nhân đinh tuyệt gia tài nhân tranh náo Cấn sa một nhi lang thai nguyên thụ kỳ thương.

Dịch: Sa ở phương Sửu là trộm cướp, danh bị người khác tố cáo. Hình như kéo dao thì đồ tể tay nhanh lẹ. Con trai ít ỏi tuyệt tự, gia tài người tranh giành náo loạn. Sa ở phương Cấn không con trai, thai nguyên bị tổn thương.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Sửu (Đông Bắc) dễ có người làm trộm cướp, bị người khác tố cáo. Hình như kéo dao thì làm nghề giết mổ. Con trai ít hoặc không có, gia sản bị tranh chấp. Gò đất xấu ở phương Cấn (Đông Bắc) thì khó có con trai, dễ sảy thai.

Tiểu khẩu nan phủ dưỡng vưu chủ gia bất tường hình nhược thất nha xoa tiên tuyệt thị tiểu phòng. Khôn thủy đối diện chiếu phúc bệnh phụ nữ vong Dần sa xuất tăng đạo hoặc xuất y sư diệu.

Dịch: Con nhỏ khó nuôi, càng chủ về nhà không yên. Hình như ngã ba bảy nhánh thì trước hết tuyệt tự phòng nhỏ. Nước ở phương Khôn đối diện chiếu thì bụng bệnh phụ nữ chết. Sa ở phương Dần (Đông Bắc) sinh ra tăng đạo hoặc thầy thuốc giỏi.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Cấn thì trẻ con khó nuôi, nhà cửa bất an. Hình như ngã ba nhiều nhánh thì phòng con út dễ tuyệt tự. Nước xấu ở phương Khôn (Tây Nam) chiếu thì phụ nữ dễ mắc bệnh về bụng mà chết. Gò đất đẹp ở phương Dần thì sinh ra người tu hành hoặc thầy thuốc giỏi.

Hình như tam giác dạng khuyển lang thiên ngộ đáo lục chỉ hoặc sản xuất học đạo hữu tâm khiếu. Cấn vị sa hoàn toàn hung hiện tại tam nguyên hình vi đô bất chính thị phi đa triền miên.

Dịch: Hình như tam giác thì dễ gặp chó sói, sinh ra sáu ngón hoặc người học đạo có tâm khiếu. Phương Cấn toàn là sa xấu thì hung họa hiện ở cả ba nguyên, hình dáng đều không chính thì thị phi nhiều triền miên.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Dần có hình tam giác thì dễ gặp tai họa bất ngờ. Có thể sinh ra người có dị tật hoặc người có duyên với đạo Phật. Nếu cả phương Sửu, Cấn, Dần đều có gò đất xấu thì gặp nhiều điều không may mắn trong cả ba vận, nhiều chuyện thị phi.

Cùng lang dữ khất cái đáo xứ nhạ nhân hiềm Vị Khôn thủy đối chiếu phu thê bất đoàn viên.

Dịch: Người nghèo và ăn xin đi đâu cũng bị người ghét bỏ. Nước ở phương Mùi Khôn đối chiếu thì vợ chồng không đoàn viên.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Cấn có thể khiến người trong nhà nghèo khó, bị mọi người xa lánh. Nếu có nước xấu ở phương Mùi (Tây Nam) hoặc Khôn (Tây Nam) chiếu thì vợ chồng dễ ly tán.

Cửu Tử Phương:

Hậu Thiên Ly Quái, phương vị Bính, Ngọ, Đinh.

Bính sa thái bất cường trung tử mục định manh hình nhược cao tiêm khởi diệc chủ thổ huyết vong. Nhâm thủy tái đối chiếu tiên tuyệt thị nhị phòng Ngọ sa xuất cùng lang diệc chủ phi mệnh vong.

Dịch: Sa ở phương Bính quá yếu, con thứ mắt nhất định mù, hình như cao nhọn thì cũng chủ về thổ huyết chết. Nước ở phương Nhâm lại đối chiếu thì trước hết tuyệt tự phòng thứ hai. Sa ở phương Ngọ sinh ra kẻ nghèo hèn, cũng chủ về chết bất đắc kỳ tử.

Giải thích: Gò đất xấu, yếu ở phương Bính (chính Nam) thì con thứ dễ bị mù, hình nhọn thì dễ mắc bệnh thổ huyết. Nếu có nước xấu ở phương Nhâm (chính Bắc) chiếu thì phòng thứ hai dễ tuyệt tự. Gò đất xấu ở phương Ngọ (chính Nam) thì sinh ra người nghèo khổ, dễ chết bất ngờ.

Hình nhược tam giác khởi song mục nhất khởi thương tâm thống vi tiểu sự dã lang bạn thị nương. Tý thủy tái tương kiến thổ huyết diện bì hoàng Đinh sa bệnh bất tường dược lô bất ly phòng.

Dịch: Hình như tam giác thì hai mắt cùng bị thương, đau lòng vì chuyện nhỏ, trai hoang theo hầu gái. Nước ở phương Tý lại gặp thì thổ huyết mặt vàng. Sa ở phương Đinh (chính Nam) bệnh không tốt lành, lò thuốc không rời phòng.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Ngọ có hình tam giác thì dễ bị thương ở mắt, đau khổ vì những chuyện nhỏ nhặt. Nếu có nước xấu ở phương Tý (chính Bắc) chiếu thì dễ bị bệnh thổ huyết, da vàng vọt. Gò đất xấu ở phương Đinh thì bệnh tật liên miên.

Hình nhược nhất điều thương vưu phạ phi mệnh thương hình khổ tham ba dạng quân tặc thương hạ vong. Quý thủy trừng thanh súc định hữu quả phụ nương Ly vị toàn thể sa thượng nguyên thị bại gia.

Dịch: Hình như một cây thương thì càng sợ chết bất đắc kỳ tử. Hình khổ sở bò lê thì quân trộm cướp chết dưới súng. Nước ở phương Quý trong xanh tụ lại thì nhất định có bà góa. Toàn bộ phương Ly có sa thì thượng nguyên là bại gia.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Đinh hình như mũi thương thì dễ chết vì tai nạn. Hình như bò lê khổ sở thì dễ bị chết vì vũ khí. Nước tốt ở phương Quý (chính Bắc) tụ lại thì có bà góa trong nhà. Nếu cả phương Bính, Ngọ, Đinh đều có gò đất xấu thì vận đầu dễ suy bại.

Tuyệt nhị hựu tuyệt trưởng tứ cửu phối giao thoa ngũ quan hình bất chính nan tỷ Thi Công tà. Nhâm Tý Quý thủy chiếu đoạn định thị tuyệt gia vô luận âm dương trạch thiết kỵ phạm Ly sa. Ly táo dữ Ly lộ đô nghi cải hoán tha.

Dịch: Tuyệt phòng thứ hai lại tuyệt phòng trưởng, bốn chín phối giao thoa, ngũ quan hình không chính khó sánh với Thi Công tà. Nước ở Nhâm Tý Quý chiếu thì đoạn định là tuyệt tự cả nhà. Bất luận âm dương trạch đều kỵ phạm sa ở phương Ly. Bếp ở phương Ly và đường ở phương Ly đều nên thay đổi.

Giải thích: Gò đất xấu ở phương Ly gây ra tuyệt tự cho phòng thứ hai

Từ khoá: kinh văn nhị thập · ["luận sa 24 sơn" · "đoán ngữ luận sa" · "hình thế sa" · "quá lộ âm dương" · "kim toả ngọc quan"

Bài viết liên quan

Bình luận

để gửi bình luận.