Kiến Thức

Nền Tảng Dịch Lý Của Hình Pháp: Hà Đồ, Lạc Thư, Tiên Hậu Thiên Bát Quái

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Nền Tảng Dịch Lý Của Hình Pháp: Hà Đồ, Lạc Thư, Tiên Hậu Thiên Bát Quái

Nghiên cứu, biên soạn và hệ thống lại: Thầy Vũ Giới – phongthuylienhoa. Loạt bài hình pháp phong thuỷ chân quyết trình bày trọn vẹn cách nhìn hình đoán khí, từ đại cục loan đầu tới nội cục từng gian phòng.

Hà Đồ

Tương truyền rằng vào thời kỳ Phục Hy cai trị thiên hạ, có một con thần thú giống rồng lại giống ngựa xuất hiện từ sông Hoàng Hà. Trên lưng nó có những xoáy lông như những ngôi sao phân bố, và cách sắp xếp phân bố này rất đặc biệt, nên người ta đã vẽ lại thành sách đồ. Trong bức đồ này ẩn chứa vô số đạo lý sâu xa, ảnh hưởng lâu dài đến hậu thế. Tương truyền, Phục Hy cũng nhờ đó mà bắt đầu tạo

Hình pháp phong thuỷ chân quyết – phongthuylienhoa

ra Bát Quái. Bức đồ này chứa đựng vô số đạo lý, ảnh hưởng sâu rộng đến hậu thế, và cũng được cho là nguồn gốc khởi đầu của Bát Quái.

Bốn Chí Lý Chứa Đựng Trong Hà Đồ

Cô âm bất sinh, độc dương bất trưởng: Số lẻ là dương, số chẵn là âm. Quan sát đồ hình có thể thấy năm phương của Hà Đồ đều có một số âm và một số dương, có thể thấy lý lẽ cô âm không sinh, độc dương không trưởng.

Sinh thành phân dụng: Số trong năm phương của đồ hình đều cách nhau năm, mà năm lại ở trung ương thổ, có thể thấy dãy số được chia đôi từ năm ở trung tâm. Do đó, 1 2 3 4 ở trong là một nhóm, gọi là sinh số, còn 6 7 8 9 ở ngoài là một nhóm, gọi là thành số, năm mươi ở trung ương không động, do đó biết hai số sinh thành phải phân dụng!

Ngũ hành định vị: Cổ nhân nói trời nam đất bắc, do đó biết Nhất Lục cộng tông ở dưới là phương bắc thủy, Nhị Thất đồng đạo ở trên là phương nam hỏa, Tam Bát vi bằng ở trái chủ phương đông mộc, Tứ Cửu vi hữu ở phải chủ phương tây kim, năm mươi đồng đồ thì ở giữa là trung ương thổ. Đến đây thì ngũ hành mới định vị!

Ngũ hành thuận sinh: Ngũ hành thuận sinh: Sau khi Hà Đồ Ngũ Hành định vị, một sáu Thủy thuận sinh ba tám Mộc, ba tám Mộc thuận sinh hai bảy Hỏa, hai bảy Hỏa chuyển quan sinh năm mười Thổ, năm mười Thổ lại thuận sinh bốn chín Kim, bốn chín Kim thì quay lại sinh một sáu Thủy, như vậy tuần hoàn theo chiều kim đồng hồ mà thuận sinh, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thiên Địa mới có thể sinh sôi không ngừng vậy!!

Lạc Thư

Tương truyền vào thời đại Đại Vũ trị thủy, cũng có một thần quy xuất hiện bên bờ sông Lạc Thủy, các vết khắc trên lưng nó cũng được sắp xếp đặc biệt, nên cũng được vẽ thành đồ thư. Vì nó rất giống với Hà Đồ, nên được đặt tên là Lạc Thư. Chí lý ẩn chứa trong thư cũng vô cùng, ảnh hưởng đến hậu thế cũng rất lớn!

Hình pháp phong thuỷ chân quyết – phongthuylienhoa

4 – 9 – 2 – 3 – 5 – 7 – 8 – 1 – 6 – 4 – 9 – 2 – 3 – 5 – 7 – 8 – 1 – 6

Bốn Chí Lý Chứa Đựng Trong Lạc Thư

Âm dương phân dụng: Số dương trong thư ở bốn phương chính, còn số âm ở bốn phương góc, cho thấy bản chất âm dương vốn giống nhau. Số dương cương cường nên làm chủ tể trời đất, số âm nhu nhược nên làm phụ thuộc. Dương thịnh mà âm hợp, âm dương cùng tiến mà không trái ngược, đó là lý lẽ âm dương phân dụng.

Âm dương bản tương đối hựu tương hợp: Quan sát số trong đồ hình hỗn loạn vô chương, dường như không có quy tắc nào, nhìn kỹ lại thì chín số này dù thẳng, ngang, chéo, ba số cộng lại đều bằng mười lăm, cho thấy vạn vật trời đất bên ngoài có lẽ không giống nhau, nhưng bên trong thực sự có một khí cơ cân bằng tồn tại. Nếu trừ đi số năm ở trung tâm, thì số ở góc đối diện đều cộng lại bằng mười. Vì số năm mươi vốn là số trung tâm, từ đó có thể biết khí đối góc cộng mười có thể thông qua trung cung mà thông nhau, từ đó biết lý lẽ âm dương vốn tương đối lại tương hợp.

Hà Lạc tương thông: Vì Hà Đồ và Lạc Thư đều là số chứa lý, nên số của hai bên có thể thông nhau.

Ngũ hành nghịch khắc: Thế là đem số Hà Đồ thay vào số Lạc Thư, thành một sáu thủy nghịch khắc hai bảy hỏa, hai bảy hỏa nghịch khắc bốn chín kim, bốn chín kim nghịch khắc ba tám mộc, ba tám mộc chuyển quan lại khắc năm mươi thổ, năm mươi thổ mới lại khắc một sáu thủy, cứ như vậy tuần hoàn ngược chiều kim đồng hồ mà nghịch khắc, thủy, hỏa, kim, mộc, thổ, sinh mệnh mới có thể tiến hóa không ngừng, bánh xe thời không mới có thể tiến lên!

Bát Quái: Tương truyền vào thời đại Phục Hy cai quản thiên hạ, sau khi quan sát sự vận hành của thiên đạo nhật nguyệt và sự biến hóa của địa giới thủy hỏa, quy tắc, đã quy nạp mà đưa ra. Phạm vi bao hàm của lý lẽ đó lớn đến trời đất nhật nguyệt đều không ra ngoài, nhỏ đến tâm can tỳ phế của cơ thể cũng đều ẩn chứa trong đó. Thế là thông qua lý lẽ của Bát Quái, chúng ta có thể thông đạt ý định ban đầu của Đấng Tạo Hóa, cũng có thể suy diễn quá trình biến hóa của vạn vật trời đất.

Hình pháp phong thuỷ chân quyết – phongthuylienhoa

Sơ đồ sinh thành của Bát Quái

Cái gọi là quẻ là một loại ký hiệu đồ đằng, mỗi quẻ đều được cấu thành từ ba hào. Trong đó, ký hiệu — gọi là hào dương, còn - - gọi là hào âm, lần lượt đại diện cho âm dương nhị khí của trời đất. Theo nguyên tắc âm dương phân dụng mà suy diễn, thế là thái cực nhất khí tự nhiên sẽ phân dụng mà sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi tự nhiên sẽ phân dụng mà sinh ra tứ tượng, cuối cùng tứ tượng lại phân dụng mà bát quái mới đại thành!

Quan sát hàng dưới cùng trong bát quái sinh thành đồ, Càn, Đoài,… là tên của quẻ, còn ký hiệu trên chữ đó chính là cái gọi là quẻ. Nói cách khác, tám ký hiệu này mới là bát quái thực sự, còn Càn, Đoài,… chỉ là tên của nó mà thôi.

Cách ứng dụng bát quái là dùng ý nghĩa đại diện của những ký hiệu đồ đằng này để suy diễn. Trong mỗi bát quái, ký hiệu — đều đại diện

cho dương khí, đại diện cho tất cả những tính chất có thể động, tích cực, vô hình, nam tính trong tự nhiên. Ký hiệu — — đều đại diện

cho âm khí, đại diện cho tất cả những tính chất tĩnh chỉ, tiêu cực, hữu hình, nữ tính...... trong tự nhiên. Mỗi bát quái đều được cấu thành từ ba tầng hào âm dương. Tầng trên cùng gọi là thượng hào, đại diện cho phía trên, bên ngoài, điểm cuối. Tầng giữa gọi là trung hào, đại diện cho trung gian, bên trong, quá trình. Tầng dưới gọi là sơ hào, đại diện cho phía dưới, bên ngoài, bắt đầu. Quẻ được suy diễn thông qua những ý nghĩa cơ bản này. Ví dụ, quẻ chấn, thượng hào và trung hào đều là hào âm, còn sơ hào là hào dương. Kết hợp với ý nghĩa của hào vị, có thể suy ra: vì trở ngại bên ngoài (tĩnh chỉ) quá lớn, nên ta phải chủ động xuất kích mới có thể đột phá. Do đó, biết quẻ chấn có ý chủ động đột phá. Về sự loại hóa trên sự vật, có thể là trưởng tử (người đầu tiên có ý đột phá), nổi tiếng (khác với trước đây), sấm (địa khí phá đất mà ra), chân (dương động ở dưới), bất ngờ (đột nhiên) v.v. Độc giả suy nghĩ nhiều sẽ có thu hoạch.

Nhiều luận đoán thần kỳ về âm dương trạch đều từ đây mà ra!

Lý thuyết cốt lõi của Phái Hình Pháp – Tiên Thiên Bát Quái

Tam sinh vạn vật: Một là khởi đầu của dương, hai là bắt đầu của âm, âm dương tương hợp rồi sinh cơ mới hiện, nên số bắt đầu từ một mà lấy ba làm đại dụng. Do đó, Bát Quái lấy ba hào làm dụng, cũng giống như lý lẽ của Lão Tử nói đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, nhi tam sinh vạn vật.

Dĩ thiểu vi dụng, dĩ trung vi quý: Một quẻ có ba hào, trừ đi hai hào âm dương giống nhau, lấy hào còn lại làm chủ hào của quẻ. Ba hào giống nhau thì lấy trung hào nắm quyền một quẻ. Thế là chủ hào của quẻ chấn là dương của sơ hào, chủ hào của quẻ khảm là dương của trung hào, chủ hào của quẻ cấn là dương của thượng hào, chủ hào của quẻ càn là dương của trung hào, chủ hào của quẻ đoài là âm của thượng hào, chủ hào của quẻ khôn là âm của trung hào, chủ hào của quẻ tốn là âm của sơ hào, chủ hào của quẻ ly là âm của trung hào.

Âm dương phân dụng: Bát Quái phân dụng, lấy chủ hào của một quẻ làm dụng. Chủ hào là dương quy vào dương quẻ, chủ hào là âm nạp vào âm quẻ. Thế là quẻ chấn, quẻ khảm, quẻ cấn, quẻ càn bốn quẻ là dương, quẻ tốn, quẻ ly, quẻ đoài, quẻ khôn bốn quẻ là âm. Đến đây thì âm dương phân dụng, mà đồng khí tương cầu!

Loại tượng: Nếu Bát Quái là ngôn ngữ của Dịch, thì loại tượng là bản dịch của Dịch. Lý lẽ của Dịch trong ứng dụng lấy tổ hợp của quẻ làm chủ cán, rồi lấy loại tượng để suy đoán mọi sự việc xảy ra. Đây là một khâu rất quan trọng trong phong thủy kham dư, độc giả nhất định phải hạ khổ tâm nhiều!

Quẻ càn: trời, kiện, lão phụ, đầu, quan viên, lãnh tụ, bảo vật.

Quẻ chấn: sấm, động, trưởng nam, chân, người kế thừa, tranh chấp, cây lớn.

Quẻ khảm: nước, hãm, trung nam, tai, lãng nhân, trí, dâm, tiết niệu.

Quẻ cấn: núi, chỉ, thiếu nam, tay, tiểu đồng, trở ngại, tôn giáo.

Quẻ khôn: đất, thuận, lão mẫu, bụng, phụ nữ, bà chủ, sinh dục. Quẻ tốn: gió, nhập, trưởng nữ, đùi, văn xương, mưu, thần kinh. Quẻ ly: lửa, lệ, trung nữ, tim, công chúng, phục vụ, mắt, tâm huyết. Quẻ đoài: đầm, duyệt, thiếu nữ, miệng, thiếp, phù thủy, khuyết điểm, đẹp.

Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái

Lý lẽ của Bát Quái đã rõ, nhưng Bát Quái lưu truyền trong thế gian lại có hai loại. Một loại tương truyền do Phục Hy để lại, một loại có lẽ do Văn Vương tạo ra. Cách giải thích thông thường là dùng nguyên tắc tiên thể hậu dụng để phân biệt. Quẻ của Phục Hy luận về lý đối đãi âm dương của trời đất, nên là thể của tiên thiên, thế là định danh là Tiên Thiên Bát Quái. Quẻ của Văn Vương luận về lý tuần hoàn khí lưu của ngũ hành, nên là ứng dụng của hậu thiên, thế là định danh là Hậu Thiên Bát Quái. Từ đó về sau, hai quẻ tiên hậu thiên được phân dụng, để làm rõ sự phân biệt thể dụng!

Tiên Thiên Bát Quái: Truyền rằng Thiên Địa Định Vị, Sơn Trạch Thông Khí, Lôi Phong Tương Bạc, Thủy Hỏa Bất Tương Xạ.

Hậu Thiên Bát Quái: Truyền rằng Đế Xuất Hồ Chấn, Tề Hồ Tốn, Tương Kiến Hồ Ly, Trí Dịch Hồ Khôn, Thuyết Ngôn Hồ Đoài, Chiến Hồ Càn, Lao Hồ Khảm, Thành Ngôn Hồ Cấn.

Ba Chí Lý Chứa Đựng Trong Tiên Hậu Thiên Bát Quái:

Tiên thiên vi thể, hậu thiên vi dụng: Trước đó đã đề cập đến nguyên nhân quẻ phân tiên hậu thiên, quan sát thêm luận thuật kinh văn của Thuyết Quái Truyện, càng có thể hiểu rõ! Cái gọi là thể chỉ

bản thể, cấu trúc, quy tắc công thức, còn dụng chỉ ứng dụng, hiệu suất, tính toán công thức. Thế là một sự vật nếu liên quan đến thể của cấu trúc, thì phải dùng Tiên Thiên Bát Quái để luận. Nếu liên quan đến dụng của ứng dụng, thì phải dùng Hậu Thiên Bát Quái để luận. Như vậy, thể dụng phân minh tự nhiên không lẫn lộn!

Quái vị bất đồng: Ngoài việc cách dùng khác nhau, điều rõ ràng nhất của Tiên Hậu Thiên Bát Quái là phương vị đại diện khác nhau. Cổ nhân nói thiên nam địa bắc, nên cổ nhân đều lấy hướng lên trên làm phương nam để định phương vị bát phương. Thế là phương nam chính là quẻ càn của tiên thiên, quẻ ly của hậu thiên. Vì phương nam sau khi định vị, thì bát quái tự nhiên định vị theo thứ tự!

Hình pháp phong thuỷ chân quyết – phongthuylienhoa

Thế là Đông Nam là quẻ Đoài của tiên thiên, quẻ Tốn của hậu thiên, phương Đông là quẻ Ly của tiên thiên, quẻ Chấn của hậu thiên, Đông

Bắc là quẻ Chấn của tiên thiên, quẻ Cấn của hậu thiên, Bắc phương là quẻ Khôn của tiên thiên, quẻ Khảm của hậu thiên, Tây Bắc là quẻ Cấn của tiên thiên, quẻ Càn của hậu thiên, Tây phương là quẻ Khảm của tiên thiên, quẻ Đoài của hậu thiên, Tây Nam là quẻ Tốn của tiên thiên, quẻ Khôn của hậu thiên! Từ đó có thể biết, Tiên Hậu Thiên Bát Quái thực ra là chồng lên phương vị bát phương. Vì muốn ứng dụng thông thường người ta dùng Hậu Thiên Bát Quái để đại diện cho dụng của phương vị bát phương, như phương Nam thì nói Ly phương, đây chính là lý phân dụng mà người ta hay dùng hiện nay.

Tiên thiên hậu thiên tương thông: Phương vị Tiên Thiên Bát Quái có khác, nhưng đều từ lưỡng nghi tứ tượng mà ra, nên vì cùng quẻ mà có thể đồng khí tương thông, thế là Tiên Hậu Thiên Bát Quái có thể tương thông! Do đó biết Tốn Khôn hai phương đồng khí có thể tương thông, Cấn Càn hai phương đồng khí có thể tương thông, Ly Chấn hai phương đồng khí có thể tương thông, Đoài Khảm hai phương cũng đồng khí có thể tương thông. Khí tương thông này trong dụng của Huyền Không học ảnh hưởng rất lớn, không thể khinh suất. Dịch có tác dụng rất lớn trong Lục Pháp! Sau khi trải qua sự rèn luyện của cuốn Huyền Không - Lục Pháp, các bạn hẳn đã có sự thể ngộ vô cùng sâu sắc. Nếu Dịch học không tốt, muốn học tốt Huyền Không thực sự như người si nói mộng!

Trong chương trước, chúng ta đã làm rõ và giải thích các nguyên tắc và yếu điểm của Hà Đồ, Lạc Thư, Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái. Tuy đó là những kiến thức cơ bản nhất của Dịch, nhưng

thực ra cũng là những kiến thức sâu sắc nhất của Dịch! Diệu lý trong đó sẽ càng trở nên rõ ràng khi sự thể ngộ của các bạn về Dịch càng sâu sắc! Lần này, chúng ta sẽ thử nhìn Dịch từ một góc độ khác, xem Dịch này sẽ thể hiện diện mạo như thế nào?

Từ xưa đến nay, việc nghiên cứu Dịch có bốn hướng, đó là lý, khí, tượng, số. Trong đó

Lý: là nguyên lý, tức là nguyên nhân khiến Dịch là Dịch. Chẳng hạn như âm dương là gì? Tại sao quẻ lại được sắp xếp như vậy? Hà Đồ và Lạc Thư rốt cuộc từ đâu mà ra? v.v., là góc độ nghiên cứu về nguyên lý của Dịch.

Khí: cổ nhân cho rằng sự thay đổi của vạn vật tự nhiên có một sức mạnh thần bí điều khiển đằng sau. Sức mạnh này được gọi là khí. Khí này không thể nhìn thấy, không thể sờ thấy, nhưng có thể cảm nhận được. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là khái niệm trường. Một vật hưng phát vì sinh khí bừng bừng, một địa điểm suy tàn vì tử khí trầm trầm, vợ đoạt quyền chồng đều do âm (khí) thịnh dương (khí) suy, trai già sinh ngọc là do dương khí trỗi dậy! Nghiên cứu nguyên nhân đằng sau hiện tượng vạn vật như vậy, đó là nghiên cứu Dịch từ góc độ khí.

Tượng: cái gọi là tượng là hiện tượng, tức là vạn sự vạn vật có thể thấy trong tự nhiên. Góc độ tượng được dùng nhiều nhất là phần loại tượng của Dịch, tức là ứng dụng thực chất của vật dĩ loại tụ, loại dĩ quần phân. So với góc độ khí đã nói ở trên, góc độ tượng nghiên cứu

thực ra là kết quả bề mặt do khí tạo ra. Hai góc độ này một bên ngoài một bên trong, thực sự mật thiết không thể tách rời!

Số: số là tính toán. Một số người cho rằng bàn về khí là thứ không nhìn thấy quá hư vô, còn luận về tượng là sự liên tưởng vô tận quá mức bành trướng ý thức. Thế là chuyển sang nghiên cứu điểm khác biệt lớn nhất giữa Dịch và các triết học khác, tức là góc độ số. Như vậy thì không cần phải nói những lời cao siêu, mọi thứ đều có số để tính! Đây cũng là phần có mối quan hệ sâu sắc nhất giữa Dịch và ngũ thuật mệnh lý. Vì có thể số được, nên được nhiều học giả qua các thời đại yêu thích sâu sắc!

Bốn góc độ nghiên Dịch là Lý, Khí, Tượng, Số này, chúng ta có thể dùng [biểu đồ] dưới biểu thị.

Hình 309: Bốn bài học của Kinh Dịch
Hình 309: Bốn bài học của Kinh Dịch

Trong sơ đồ này, lý và khí là hai khái niệm cơ bản nhất, tượng và số là sự phát triển và ứng dụng của lý và khí. Lý là nguyên lý của Dịch, khí là sức mạnh điều khiển vạn vật, tượng là hiện tượng có thể nhìn thấy, số là tính toán.

Hình pháp phong thuỷ chân quyết – phongthuylienhoa

Trong sơ đồ này, lý và khí là hai khái niệm cơ bản nhất, tượng và số là sự phát triển và ứng dụng của lý và khí. Lý là nguyên lý của Dịch, khí là sức mạnh điều khiển vạn vật, tượng là hiện tượng có thể nhìn thấy, số là tính toán.

Như vậy, chẳng phải sẽ dễ dàng hơn để hiểu mối quan hệ tương hỗ giữa bốn điều này sao! Lý là nguyên lý của Dịch, mà cái mà nó nghiên cứu là khí và tượng. Trong đó, khí chủ sự biến động vô hình, còn tượng chủ tính chất hữu hình, một khí một chất, một bên ngoài một bên trong, mỗi bên một vẻ, còn số cuối cùng thống nhất đại dụng, có thể tính toán sự biến động và tính chất của khí và tượng! Từ đó có thể thấy, lý, khí, tượng, số bốn điều này thực ra không phải là bốn góc độ, mà là một hệ thống nghiên cứu Dịch hoàn chỉnh, không thể tách rời để nghiên cứu.

Và, nếu chúng ta nghiên cứu sâu hơn một chút, sẽ phát hiện ra một số mối quan hệ thú vị hơn

Thứ nhất, chúng ta biết cái gọi là khí, vì sự biến động do nhập (tăng) và xuất (giảm) khác nhau, chủ yếu có thể chia thành hai phần

lớn là âm khí và dương khí. Chẳng phải đây cũng là tính lý cơ bản của lưỡng nghi trong Dịch sao?

Thứ hai, cái gọi là tượng chỉ biểu tượng của vạn sự vạn vật trong tự nhiên, đặc biệt nhấn mạnh sự phân loại tính chất trong đó. Chúng ta đều biết sự phân loại tính chất này là phương pháp ứng dụng ngũ hành truyền thống, mà ngũ hành được diễn hóa từ tứ tượng. Thế là nghiên cứu tính chất của tượng này, chẳng phải cũng là tính lý cơ bản của tứ tượng trong Dịch sao?

Thứ ba, vì số được dùng để tính toán sự biến động và tính chất của khí và tượng, nên bát quái nhất định phải có hai! Mà không phải là ba, bốn! Thậm chí chúng ta có thể tự suy ra, một bát quái được thiết lập để cầu khí, thì bát quái còn lại được thiết lập để cầu tượng (chất). Đây cũng là nguyên nhân thực sự tại sao bát quái được chia thành Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái! Tư duy này, có thể giúp bạn dễ dàng phân biệt sự khác biệt trong cách dùng của Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái hơn không?

Thứ tư, nếu định vị của thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái như chúng ta đã nói ở trên, thì định vị của tam thập nhị đại quái và lục thập tứ tiểu quái nên ở đâu? Suy nghĩ kỹ, bạn sẽ hiểu rõ hơn nội hàm thực sự của Huyền Không Đại Quái!

Hình pháp phong thuỷ chân quyết – phongthuylienhoa

Những điều đã nói ở trên là luận thuật nâng cao của chúng ta về Dịch lần này, hy vọng có thể giúp ích cho các bạn trên con đường học Dịch.

Mặc dù những gì chúng ta luận thuật đều là lý lẽ của Dịch, nhưng trong Huyền Không cũng không thể xem nhẹ. Cần biết rằng Huyền Không vốn từ Dịch mà ra, nên lý lẽ và cách dùng của nó có thể dung thông lẫn nhau!

Thực ra, tứ quyết, nhất pháp của Lục Pháp là công thức cố định, nói trắng ra là học là sẽ biết, chỉ khác nhau về độ sâu kinh nghiệm mà thôi!

Chỉ có nhất tâm - Huyền Không tâm ấn ẩn chứa nội hàm lý lẽ Dịch sâu sắc, là thứ cần dùng cả đời tâm huyết để thân thể lực hành, thực tế thể ngộ. Nó sẽ càng thể hiện diện mạo mê người hơn khi bạn thể ngộ sinh mệnh và tự nhiên càng sâu sắc. Diệu lý trong đó thực khó

diễn tả bằng lời, chỉ có thể để các học viên tự mình dùng tâm thể hội! Cùng nhau cố gắng nhé!

Từ khoá: nền tảng dịch lý · hình pháp phong thuỷ chân quyết · phongthuylienhoa · thầy vũ giới · hình pháp ứng dụng · hình tướng trạch

Bài viết liên quan

Bình luận

để gửi bình luận.