Kiến Thức

Tam Hợp nhập môn: ba hợp cục, vòng Trường Sinh và trục lý của phái Tam Hợp

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Tam Hợp nhập môn: ba hợp cục, vòng Trường Sinh và trục lý của phái Tam Hợp

Tam Hợp là phái phong thuỷ lấy quan hệ tam hợp của mười hai địa chi làm trục. Từ bốn hợp cục sinh ra bốn cục thuỷ, mỗi cục có một vòng mười hai Trường Sinh riêng, và toàn bộ phép luận toạ hướng — thu thuỷ — lập hướng đều xoay quanh vòng đó.

Bốn tam hợp cục trên vòng địa chi 24 sơn
Bốn tam hợp cục trên vòng địa chi 24 sơn

Lý thuyết: vì sao ba chi lại hợp thành một cục

Mười hai địa chi xếp thành vòng tròn. Cứ cách bốn cung lấy một chi thì được ba chi tạo thành tam giác đều: Thân – Tý – Thìn, Hợi – Mão – Mùi, Dần – Ngọ – Tuất, Tỵ – Dậu – Sửu. Tam giác đều là hình cân bằng nhất, nên ba chi này hoà khí với nhau và cùng quy về một hành: lần lượt Thuỷ, Mộc, Hoả, Kim.

Trong mỗi bộ ba, chi đứng đầu là nơi khí sinh ra (Trường Sinh), chi giữa là nơi khí mạnh nhất (Đế Vượng), chi cuối là nơi khí thu tàng (Mộ khố). Thân sinh Thuỷ, Tý vượng Thuỷ, Thìn chứa Thuỷ. Hiểu ba vị trí ấy là hiểu toàn bộ nhịp sinh – vượng – mộ mà phái Tam Hợp dùng để đo cát hung.

Bởi vậy Tam Hợp không đo khí theo thời gian như Huyền Không, cũng không đo theo mệnh chủ như Bát Trạch, mà đo theo hình thế đất và dòng nước: nước đến từ phương sinh, tụ ở phương vượng, thoát ra ở phương mộ thì cục thành; ngược lại thì cục vỡ.

Cách tính: xác lập cục từ thuỷ khẩu

Bước đầu tiên của mọi ca Tam Hợp là tìm thuỷ khẩu — chỗ nước chảy đi khuất mắt. Thuỷ khẩu rơi vào sơn nào thì lấy mộ khố tương ứng để định cục.

Thuỷ khẩu rơi vàoCụcTrường SinhĐế VượngMộ khố
Ất – ThìnThuỷ cụcThânThìn
Đinh – MùiMộc cụcHợiMãoMùi
Tân – TuấtHoả cụcDầnNgọTuất
Quý – SửuKim cụcTỵDậuSửu

Sau khi có cục, an vòng mười hai Trường Sinh thuận chiều kim đồng hồ cho dương cục, nghịch chiều cho âm cục: Trường Sinh – Mộc Dục – Quan Đới – Lâm Quan – Đế Vượng – Suy – Bệnh – Tử – Mộ – Tuyệt – Thai – Dưỡng.

Có vòng rồi thì đọc: hướng nhà, cửa, bếp, ao hồ, đường đi rơi vào cung nào của vòng ấy sẽ mang khí của cung đó.

Ứng dụng: cung nào nên dùng, cung nào nên tránh

  • Trường Sinh, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng — bốn cung khí đang lên, hợp đặt cửa chính, phòng khách, bàn làm việc, nơi nước đến.
  • Dưỡng, Thai — khí non, hợp phòng ngủ trẻ nhỏ, kho, nơi cần yên tĩnh.
  • Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt — khí lụi, nên dành cho nhà vệ sinh, cầu thang phụ, chỗ nước thoát.
  • Mộ — cung thu tàng, là nơi nước phải đi ra; đặt cửa ở Mộ thì tài khí trôi theo nước.

Nguyên tắc gọn trong một câu: nước đến ở cung vượng, nước đi ở cung mộ, người ở cung sinh.

Ví dụ minh hoạ

Một căn nhà phố ở ngoại thành, mặt tiền nhìn ra con mương chảy từ phía Tây Nam sang Đông Nam rồi khuất sau rặng tre ở sơn Ất – Thìn. Thuỷ khẩu tại Ất – Thìn nên lập Thuỷ cục: Trường Sinh ở Thân, Đế Vượng ở Tý, Mộ ở Thìn.

Cửa chính nhà này mở ở phương Tây Nam gần sơn Thân — đúng cung Trường Sinh, nước lại đến từ phía đó, thành thế nước sinh đón khí. Bếp nằm ở phương Bắc gần sơn Tý, tức Đế Vượng, hợp cho tài khí ổn định.

Điểm phải sửa là bể nước ngầm đặt ở phương Đông Nam sát sơn Thìn — trùng cung Mộ. Nước tù ở cung Mộ khiến tài đến rồi đọng, dễ sinh chuyện vay mượn dây dưa. Cách xử lý: chuyển bể sang phương Bắc, còn Đông Nam để làm rãnh thoát, đúng lý nước đi ở Mộ.

Từ khoá: tam hợp · tam hợp cục · vòng trường sinh · thân tý thìn · dần ngọ tuất · phong thuỷ tam hợp

Bình luận

để gửi bình luận.