Kiến Thức

Mười hai cung Trường Sinh trong Tam Hợp: ý nghĩa từng cung và cách vận dụng

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Mười hai cung Trường Sinh trong Tam Hợp: ý nghĩa từng cung và cách vận dụng

Vòng mười hai Trường Sinh là bản đồ vòng đời của khí: sinh ra, lớn lên, cực thịnh, suy tàn, tiêu diệt rồi thai nghén trở lại. Nắm ý nghĩa từng cung là nắm cách chia công năng cho một ngôi nhà.

Vòng mười hai Trường Sinh của Thuỷ cục
Vòng mười hai Trường Sinh của Thuỷ cục

Lý thuyết: một vòng đời chia mười hai chặng

Người xưa mượn đời người để mô tả khí. Khí cũng có lúc mới sinh còn yếu, có lúc tráng niên đủ sức gánh việc lớn, có lúc già cỗi cần nghỉ. Mười hai cung là mười hai chặng ấy, đi tuần tự và không bỏ chặng nào.

CungTrạng thái khíNên dùng cho
Trường SinhKhí mới sinh, trong và mạnh dầnCửa chính, lối vào, cây xanh
Mộc DụcKhí non, còn tán loạnSân giặt, nhà tắm phụ
Quan ĐớiKhí đã định hìnhPhòng học, phòng làm việc
Lâm QuanKhí sung mãn, sắp đỉnhPhòng khách, bàn tiếp khách
Đế VượngKhí cực thịnhBếp, két, bàn chủ
SuyKhí bắt đầu xuốngKho, hành lang
BệnhKhí đụcNhà vệ sinh
TửKhí tắtCầu thang phụ, lối kỹ thuật
MộKhí thu tàngChỗ thoát nước, hầm
TuyệtKhí đứtKhông đặt phòng ngủ
ThaiKhí nhen lạiPhòng em bé
DưỡngKhí được nuôiPhòng ngủ, nơi nghỉ

Cách tính: an vòng theo cục và theo chiều âm dương

  1. Xác định cục từ thuỷ khẩu (Thuỷ, Mộc, Hoả hay Kim cục).
  2. Đặt Trường Sinh vào chi khởi của cục: Thuỷ ở Thân, Mộc ở Hợi, Hoả ở Dần, Kim ở Tỵ.
  3. Dương cục an thuận chiều kim đồng hồ, âm cục an nghịch chiều.
  4. Ghi mười hai cung lần lượt lên mười hai chi.
  5. Chiếu sơ đồ mặt bằng nhà lên vòng để đọc từng phòng.

Chú ý: vòng Trường Sinh của Tam Hợp an theo địa chi, mỗi chi chiếm 30 độ, khác với 24 sơn mỗi sơn 15 độ. Khi đo la bàn, hai sơn kề nhau của cùng một chi cùng thuộc một cung Trường Sinh.

Ứng dụng thực tế

Trong nhà ở, cách dùng gọn nhất là chia ba nhóm: bốn cung sinh vượng dành cho hoạt động sinh lợi, bốn cung nghỉ (Dưỡng, Thai, Suy, Mộc Dục) dành cho nghỉ ngơi và phụ trợ, bốn cung hung (Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt) dành cho kỹ thuật và thoát nước.

Với cửa hàng, quầy thu ngân đặt ở Đế Vượng hoặc Lâm Quan, lối vào ở Trường Sinh, kho ở Suy hoặc Mộ. Với nhà xưởng, dây chuyền chính đi từ cung Trường Sinh sang Đế Vượng là thuận khí.

Ví dụ minh hoạ

Một biệt thự lập Hoả cục (thuỷ khẩu ở Tân – Tuất): Trường Sinh tại Dần (Đông Bắc), Đế Vượng tại Ngọ (Nam), Mộ tại Tuất (Tây Bắc).

Chủ nhà đặt cổng ở Đông Bắc — đúng Trường Sinh, tốt. Nhưng phòng ngủ vợ chồng lại ở Tây Bắc, tức cung Mộ, và ngay dưới có bể phốt. Người trong phòng hay mệt buổi sáng, ngủ không sâu.

Xử lý: chuyển phòng ngủ chính sang phương Tây Nam (cung Dưỡng của Hoả cục, tại Mùi), giữ Tây Bắc làm phòng thờ và kho — cung Mộ hợp với chức năng tàng chứa, tĩnh lặng. Sau ba tháng, chủ nhà báo giấc ngủ ổn hơn hẳn.

Từ khoá: mười hai · mười hai trường sinh · mộc dục · đế vượng · cung mộ · cung tuyệt

Bình luận

để gửi bình luận.