Ý nghĩa 64 quẻ dịch – lục thập tứ quái

Ý nghĩa 64 quẻ dịch – lục thập tứ quái

Kiến thức liên hoa dịch cần có:

  1. Công thức lên quẻ.
  2. Bát quái tượng loại.
  3. Sinh khắc ngũ hành.-> mô hình tứ trụ.
  4. Ngũ hành tứ thời – Vượng tướng hưu tù.
  5. Lục thân lục sự.
  6. Can chi hoa giáp.
  7. Công thức dụng thể.
  8. Công thức mệnh TA mệnh Sự.
  9. Công thức lý sự chồng quái.
  10. Bốn đại pháp của kinh dịch: Lý Số Tượng Đồ.
  11. Học thuyết âm dương: định luật âm dương luật luận.
  12. Ba nguyên tắc dịch: Giản dịch, Bất dịch, Biến dịch.
  13. 4 đại mục: lý – số – tượng đồ.
  14. Nguyên lý thái cục – cực điểm.
  15. Tam sinh vạn vật.
  16. Thuyết tam tài: thiên địa nhân hợp nhất.
  17. Phép trấn và hoá giải.

64 quẻ do tám kinh quái tổ hợp thành, mỗi quẻ đều có quái danh và tượng ý riêng biệt. Khi đoán quẻ, từ quái danh đôi khi có thể trực tiếp ngộ ra xu thế phát triển và kết quả của sự việc. Trong Tạp Quái Truyện đã trình bày ngắn gọn về quái danh của 64 quẻ, thực tế là biểu đạt nội hàm của mỗi quẻ. Dựa vào quái danh và quái tượng, chúng ta cũng có thể ngộ ra được tượng ý và sự vật tượng trưng của quẻ đó.

1 Khí quản tích đàm dẫn tới các triệu chứng như hô hấp không thông, tim đập nhanh, đổ mồ hôi v.v.

Tạp Quái Truyện:

    “Càn cương Khôn nhu. Tỷ lạc Sư ưu. Lâm Quan chỉ nghĩa, hoặc dữ hoặc cầu. Truân hiện như bất thất kỳ cư,

   Mông tạp nhì trứ. Chấn, khởi dã; Cẩn, chỉ dã. Tổn Ích, thịnh suy chỉ thủy dã. Đại Súc, thời dã; Vô Vọng, tai dã. Tuy tụ nhi Thăng bất lại dã.  Khiêm khinh, nhi Dự đãi dã. Phệ Hạp, thực dã; Bí, vô sắc dã.

   Đoài hiện, nhì Tốn phục dã. Tùy, vô cổ dã; Cổ, tắc sức dã. Bác, lạn dã; Phục, phản dã. Tẩn, trú dã; Minh Di, tru dã. Tỉnh thông, nhi Khốn tương ngộ dã. Hàm, tốc dã; Hằng, cửu dã. Hoán, ly dã; Tiết, chỉ dã. Giải, hoãn dã; Kiển, nan dã. Khuê, ngoại dã; Gia Nhân, nội dã. Bỉ Thái, phản kỳ loại dã. Đại Tráng tắc chỉ, Độn tắc thoái dã. Đại Hữu, chúng dã; Đồng Nhân, thân dã. Cách, khứ cổ dã; Đỉnh, thủ tân dã. Tiểu Quá, quá dã; Trung Phu, tín dã. Phong, đa cố dã; thân quả, Lữ dã. Ly thượng, nhi Khảm hạ dã. Tiểu Súc, quả dã; Lý, bất xử dã.

   Nhu, bất tiến dã; Tụng, bất thân dã. Đại Quá, điên dã; Cấu, ngộ đã, nhu ngộ cương dã. Tiệm, nữ quy đãi nam hành dã; Di, dưỡng chính dã. Ký Tế, định dã; Quy Muội, nữ chi chung dã. Vị Tế, nam chi cùng dã; Quải, quyết dã, cương quyết nhu dã, quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo ưu dã.”

   Tạm dịch: Quẻ Càn cương kiện, quẻ Khôn âm nhu. Quả Tỷ vui vẻ, quẻ Sư ưu sầu. Ý nghĩa của quẻ Lâm và quẻ Quan, hoặc là đưa cho, hoặc là thỉnh cầu. Quẻ Truân là vạn vật bắt đầu xuất hiện, tất cả đều không mất đi vị trí của nó, quẻ Mông là vạn vật hiển lộ ở nơi hỗn tạp. Quẻ Chấn là phấn khởi, quẻ Cấn là tĩnh. Quẻ Tổn và quẻ Ích là khởi đầu của thịnh đại và suy vi. Quẻ Đại Súc nói về thời cơ, quẻ Vô Vọng nói về tai họa. Quẻ Tụy là tụ tập, quẻ Thăng là không đến. Quả Khiêm là khiếm nhã, quẻ Dự là lười biếng. Phệ Hạp là ăn uống. Quả Bí là không có màu sắc. Quẻ Đoài là trông thấy, quẻ Tốn là khiêm nhường, là phục. Quẻ Tùy là vô duyên vô cớ, quẻ Cổ là chỉnh đốn trị lý. Quẻ Bác là thổi rữa, quẻ Phục là trở lại. Quẻ Tấn là ban ngày, quẻ Minh Di là chém giết.

   Quẻ Tỉnh là nước thông với mặt đất, quẻ Khốn là hai bên gặp nhau. Quẻ Hàm là nhanh chóng, quẻ Hằng là lâu dài. Quẻ Hoán là ly tán, quẻ Tiết là hạn chế. Quẻ Giải là hòa dịu, quẻ Kiển là khó khăn. Quẻ Khuê nói về bên ngoài, quẻ Gia Nhân nói về trong nhà.

   Quẻ Bĩ và quẻ Thái trái ngược với nhau. Quẻ Đại Tráng là đình chỉ, quẻ Độn là thoái lui. Quẻ Đại Hữu nói về được nhiều người giúp đỡ, quẻ Đồng Nhân nói về thân cận với nhiều người. Quẻ Cách là loại bỏ cái cũ, quẻ Đỉnh là đạt được cái mới. Quẻ Tiểu Quá nói về lỗi nhỏ, quẻ Trung Phu nói về phải có chữ tín. Quẻ Phong nói về làm việc không cần thiết, quẻ Lữ nói về ít người thân cận. Quẻ Ly là hỏa hướng lên, quẻ Khảm là thủy hướng xuống.

   Quẻ Tiểu Súc là thiếu, quẻ Lý là không đình chỉ. Quẻ Nhu là không tiến lên, quẻ Tụng là không thân thiết. Quẻ Đại Quá là điên đảo, quẻ Cẩu là gặp, là âm nhu gặp dương cương. Quẻ Tiệm là nữ xuất giá phải đợi nhà trai đón mới đi, quẻ Di là bồi dưỡng chính khí. Quẻ Ký Tế là đã thành công, quẻ Quy Muội là kết cục của cô gái trẻ.

   Quẻ Vị Tế là sự khốn cùng của người đàn ông, quẻ Quải là xung khai, là dương cương xung khai âm nhu, là đạo quân tử không ngừng lên cao, đạo tiểu nhân không ngừng xuống thấp.

   8 kinh quái, 64 biệt quái, giống như vạn vật vạn tượng trên đời, sự rắc rối về nội dung khiến cho người ta khó hiểu. Trên thực tế, trong học tập không nên học vẹt vật tượng, thể tượng cụ thể của mỗi quẻ, mà trước tiên phải hiểu thấu quái tượng, hào tượng và quái tính, sau đó quan sát hình dáng sự vật, so sánh quái tượng và lấy sự vật phân loại vào bát quái, đây gọi là vạn tượng sinh ở tâm, quẻ cũng sinh ở tâm. Người học phải dùng tâm để ngộ, chứ không phải dùng đầu để nghĩ hay để nhớ, trên đời có muôn vàn chuyện, trong suốt cuộc đời, một người thì có thể biết và nhớ được bao nhiêu? Nhưng nếu có thể tinh thông Dịch lý, hiểu thấu quái tượng, thì mọi chuyện thiên hạ đều biết! Đây chính là: “Học trò không ra khỏi cửa cũng có thể biết được chuyện thiên hạ”. Anh ta dựa vào cái gì để biết chuyện thiên hạ? Đó là bát quái.

   Nội hàm của quẻ là do tượng của bản thân nó quyết định. Ví dụ như quẻ Đỉnh –, quẻ hỗ của nó là Quải =, tượng một đồ đựng bằng kim loại hình tròn (Càn là tròn) mở miệng ở trên, quẻ Đỉnh hào 6 là dương, thì coi là nắp nồi, quẻ này thượng Ly hỏa hạ Tốn mộc, mộc sinh hỏa đốt đồ đựng bằng kim loại này, mà phía dưới có một hào âm, có hai chân chống đỡ, đồ đựng này xưa gọi là cái đỉnh, đỉnh phải là ba chân mới có thể đứng được, nhưng ở đây chỉ có hai chân, thiếu một, cho nên gọi là quẻ Đỉnh “chiết túc” (gãy chân). Một ví dụ khác như Đại Súc , Càn là vàng ngọc, là đồ vật quý giá, Cẩn là núi, là dừng, vàng ngọc phục tàng dưới núi, trong núi, hoặc là vàng ngọc được để trong kho, dừng lưu hành ở ngoài, không lộ ra ngoài, cho nên quẻ này là tượng tích góp tiền của.

   Phong H, quẻ hỗ của nó chứa tượng đại Khảm, Khám chủ trí, thông minh. Thượng quái Chấn là nghĩ, là chăm chỉ suy nghĩ, hạ quái là Ly, là ánh sáng, người thông minh chăm chỉ suy nghĩ và hành động, quang minh vô hạn, tất được thành quả to lớn, cho nên gọi là Phong. Căn cứ vào quái tượng, hào vị, quái tính và quái danh, chúng ta sẽ dễ dàng ngộ được các quẻ.

   Giới thiệu ngắn gọn về các tượng ý chủ yếu thường dùng của 64 quẻ, không đi theo các khuôn mẫu giáo điều, mà là hướng dẫn mọi người phân tích quái tượng và hào tượng, để tư duy hình tượng, tư duy ngộ tính, “khiêu xuất tam giới ngoại, bất tại ngũ hành trung.” Học “dĩ đạo quan vật, quan vật thủ tượng”, mô phỏng thủ tượng, từ đó, khi gặp vật tượng gì thì sẽ biết được vật tượng này thuộc về quẻ nào, khi gặp một quái tượng thì có thể biết được quái tượng này mô phỏng vật tượng gì.

Dịch là biến dịch, mà việc nắm bắt Dịch đều ở một chữ “hoạt”, “hoạt tắc thông, thông tắc cửu, cửu tắc đại”.

Tượng ý của 64 quẻ:

Quẻ Càn – bát thuần càn 

Càn Vi Thiên. Quái tượng: Thượng Càn hạ Càn, quẻ thuần dương. Quẻ Càn, dương cương, cương kiện, tự cường bất tức”. Càn sáu hào đều doanh mãn, cho nên đầy đủ, viên mãn, hanh thông, thành công, trọng đại. Nhưng cứng quá dễ gãy, có tượng thiếu yên ổn, thiếu vững chắc. Nhân vật biểu thị là cấp trên, lãnh đạo, cán bộ, người chấp pháp, người có tiền và phú quý, tài xế.

Quẻ Khôn – bát thuần khôn

Khôn lễ Khôn Vi Địa. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Khôn, quẻ thuần âm. Quẻ Khôn, âm nhu, địa đạo hiền sinh”; hậu tải vạn vật, vận hành không ngơi nghỉ và tiến bước không giới hạn, có tượng thông thuận. Khôn sáu hào đều hư, có tượng vỡ nứt, âm ám, hãm hại, bất

1 Vượt ra khỏi tam giới, không còn ở trong ngũ hành,

? Không ngừng vươn lên, không ngừng cố gắng.

3 Đạo của đất là sinh vạn vật.

Đất dày và tải vạn vật. động, đoán xuất hành không đi, hành nhân không về. Nhân vật biểu thị tiểu nhân (do trời lớn đất nhỏ).

Truân

Thủy Lôi Truân. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Quẻ Truân, cây được trời mưa mà gội đầu, hoặc sấm và mưa cùng đến, tượng đối mặt khó khăn và suy nghĩ thận trọng. Khảm là hiểm, Chấn là động, Truân tích, đầy, vật mới sinh, tụ đốn tỏa, lúc đầu tuy gian nan, nhưng không mất đi vị trí của nó và lập nên sự nghiệp. “Dĩ quý hạ tiện, động vu hiểm trung, ưu hoạn trung thâm mưu viễn lự.” Khảm là thể, thì tiết khí vô tài, thất thoát. Chấn là thể lại được sinh thì được tài thăng chức. Phòng bệnh gan, chứng suy huyết, thận hư v.v, lo về trưởng nam.

Mông

La Sơn Thủy Mông. Quái tượng: Thượng Cấn hạ Quẻ Mông, dưới núi có nước, dưới núi có hiểm, hiểm mà dừng, âm hãm mà bất định, phức tạp nhưng hiện rõ. Đồng mông”, mông muội, khải mông (khai sáng), giáo dục, giáo hóa. Hôn, trầm”.

Tai nạn rơi xuống nước hoặc sỏi thận, hệ tiết niệu kết sỏi, mất thính giác. Cẩn là thể, có thời vất vả; Khảm là thể, có tai họa, trung nam bất lợi.

Nhu

Thủy Thiên Nhu. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Càn. Quẻ Nhu, mây kéo đầy trời, hiểm nạn phía trước, cần đợi thời mà tiến, nhu cầu, chờ đợi, mong đợi. Gánh vác hiểm nạn, có ham muốn, có yêu cầu. Có thông minh tài trí. Khảm là thể, có niềm vui về tiền tài, quan chức, lợi cho trung nam; Càn là thể, lại tiết khí, thất thoát, là bệnh, giáng chức, mất chức.

Tụng

 Thiên Thủy Tụng. Quái tượng: Thượng Càn hạQuẻ Tụng, trời mưa, trên cương dưới hiểm. Quan phi khẩu thiệt, tranh luận, không thân thiết, chữ tín bị khuất lấp. Nội tâm thông minh. Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Nhu.

—-

1 Đình chỉ phát triển ở giai đoạn đầu.

Lấy quý đặt dưới hèn, hành động trong nguy hiểm, lo xa nghĩ rộng trong gian nan khổ cực.

Trẻ thơ dại; trẻ nhỏ chưa biết gì.

4 Tối tăm, đầu óc lờ đờ, tinh thần mệt mỏi.

5 Chìm xuống, nặng nề.

Sư 

LỄ Địa Thủy Sư. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Khảm. Quẻ Sư, dưới đất chứa nước, nước khoáng, nước ngầm, tiểu nhân nội tâm nham hiểm xảo trá. Tụ tập quần chúng, ra quân ồ ạt, thống lĩnh, thống soái, quân đội, bảo thủ ổn định, lo lắng. “Dung dân súc chúng, trung quốc hoài thần!”. Khôn là thể, mưu sự có thể thành, Khảm là thể có tai bệnh. Bệnh thận, hệ tiết niệu kết sỏi, tiêu chảy, đại tiện nhão. Mẹ có bệnh, trung nam bất lợi, phụ nữ nằm quyền, bị phụ nữ sỉ nhục.

Tỷ 

Thủy Địa Tỷ. Quái tượng: Thượng Khảm hại Khôn.

Quẻ Tỷ, trên đất có nước thẩm thấu, trợ giúp, thân thiện, tỉ thí, vui vẻ. “Chí thành tương tri, tương dữ tương ứng.” Phụ nữ thông minh. Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quả Sư.

Tiểu Súc — Phong Thiên Tiểu Súc. Quái tượng: Thượng Tn hạ Càn.

Quẻ Tiểu Súc

Quẻ Tiểu Súc, trên trời nổi gió, trời đầy gió mây, cường kiện như gió thuận mà đi, tích ít thành nhiều, chờ đợi, “đức tích tải pháp”, tế dưỡng”. Quẻ Tốn là thể, có tai họa, tổn thương do đồ vật kim loại, cấp trên phê bình, bị áp chế. Quẻ Càn là thể, mưu sự có thể thành, nhưng phải trả giá khá nhiều, bôn ba vất vả, dùng quyền lực khuất phục người khác. Bệnh đảm kinh, phong hàn. Phụ nữ bất lợi, đàn ông chuyên quyền, khắc phụ.

Quẻ Lý 

 Thiên Trạch Lý. Quái tượng: Thượng Càn hạ Đoài.

Quẻ Lý, hình tròn có khuyết tổn, trong cương có hiểm. Chấp hành, hành động thận trọng, hành vi giẫm đạp, hành bất du lễ, bất

—-

* Dung nạp và nuôi dưỡng dân chúng, làm thần dân trung thành với đất

nước.

? Hiểu nhau chân thành, chung sống hòa hợp,

3 Cứu tế, nuôi dưỡng.

“ Hành vi không vượt quá lễ nghĩa,

xử phi lễ. Có quan tại thị phi tranh chấp, tai nạn giao thông, tổn

thương do đồ vật kim loại. Quẻ tỷ hòa, sự cát. Càn là cha, Đoài là

thiếu nữ, già trẻ kết hợp, hôn nhân bất lợi, có nỗi lo về phá tổn biến

cổ. Phòng bệnh phổi, đường hô hấp, kim vượng khắc mộc, có bệnh

gan mật, bệnh khoang miệng, bệnh đau đầu.

Quẻ Thái – Địa Thiên Thái

Địa Thiên Thái. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Cần.

Quẻ Thái, khí trời đất tương giao, tiểu vãng đại lai (nhỏ đi lớn đến). An định, thái bình, hanh thông, thông thái, an đức, trì doanh”, to lớn, sự cát. “Vô vãng bất phục, gian nan thủ chính, hàng tồn tòng hiền”.” Khôn là thể thì tiết khí thất thoát, nghênh phụng quyền quý. Càn là thể thì có hỷ phát tài thăng chức. Được phụ nữ đã có chồng trợ giúp, nhiều người ủng hộ. Có bệnh vị hàn.

Quẻ Bĩ

Thiên Địa Bỉ. Quái tượng: Thượng Càn hạ Khôn.

Quả Bĩ, trời trong ở trên, đất đục ở dưới, khí trời đất không tương giao. Bế tắc không thông. Cách trở, việc không trôi chảy. “Đại nhân bĩ hanh, nội tiểu nhân nhi ngoại quân tử.” Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Thái. Ngoài ra còn phòng bệnh xương cổ tăng sinh, xương cổ cứng đờ.

Đồng Nhân 

Thiên Hỏa Đồng Nhân. Quái tượng: Thượng Càn Còn hạ Ly.

Quẻ Đồng Nhân, mặt trời treo giữa trời, chiếu rọi thiên hạ vạn vật, “khoáng đạt vô tư đi đồng nhân, đồng tâm chi ngôn…”, chí đồng đạo hợp, thân cận với người, hữu hảo với người. Vật kim loại phát nhiệt, đốt nóng, đồ điện bằng kim loại, nồi hơi. Càn là thể, có tại họa. Ly là thế, mưu sự có thể thành. Có tranh cãi với con cái, phổi, hệ hô hấp có bệnh, có chứng mạch máu xơ cứng, lão phụ và trưởng nam bất lợi.

1 Giữ đúng lễ nghĩa ở mọi nơi.

2 Thoải mái, thông suốt, trôi chảy.

6

? Giữ lại thành tựu đã thành.

1 Đi ắt có về, gian nan tuân thủ chính đạo, noi theo người hiền đức.

3 Người đại đức vừa có bế tắc vừa có hanh thông, trong tiểu nhân mà

ngoài quân tử.

Khoảng đạt vô tư bởi vì lời nói đồng nhân, đồng tâm.

Cùng chung chí hướng.

Đại Hữu 

Hỏa Thiên Đại Hữu. Quái tượng: Thượng Ly hạ Quẻ Đại Hữu, mặt trời rực sáng, hào quang khắp trời, sở hữu tài sản, sở hữu rất nhiều, thu hoạch được mùa. “Tự trợ nhân trợ, vạn vật sở quy.” Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Đồng Nhân. Ngoài ra còn phòng chứng xơ cứng, vỡ mạch máu não.

Khiêm 

* Địa Sơn Khiêm. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Cấn.

Quẻ Khiêm, trong đất ẩn tàng khoáng thạch, của cải. Cung kính hợp lễ, cúi mình dưới người, nhượng bộ nhưng không tự mãn, khiêm tốn nhượng bộ, khinh mình trọng người, “lao khiêm quân tử đích thịnh đức, nội sung thực.” Quẻ tỷ hòa, sự cát. Đoán hôn nhân, lão mẫu kết hợp thiếu nam, có điềm hôn biển”, (quẻ hỗ lại chứa Khảm hiểm) có bệnh ruột và dạ dày, tiện kết, thận hư.

Dự

Lôi Địa Dự. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Khôn. Quẻ Dự, sấm dậy đất bằng, hoặc tiếng sấm mùa xuân, chấn kinh trăm dặm, kinh thiên động địa, ảnh hưởng to lớn, tiếng tăm vang dội. Hưởng thụ an lạc, vui vẻ an nhàn, sung sướng nhưng lười biếng, phát lệnh hiệu triệu, cần biết ý nghĩa của tùy thời, vượt hằn mọi người, thâm căn cổ đế. Chấn là thể, cầu tài có thể được, lợi cho thu hoạch điền sản. Khôn là thể, hung. 40 tuổi tạo dựng sự nghiệp, 48 tuổi danh truyền bốn biển. Không cát là lại bài bạc, thích uống rượu, ruộng vườn bỏ phế, quan tai thị phi, khó tránh gông cùm xiềng xích. Có bệnh chân, bệnh ruột và dạ dày, tổn thương nội cân (huyệt giao tín), thận hư, phụ nữ bất lợi.

Tùy

Trạch Lôi Tùy. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Chấn. Quẻ Tùy, trên miệng nói dưới hành động, nói tất làm, ngôn hành thống nhất, thét lên giận dữ, tranh cãi, tương tùy tương tòng, đuổi theo vì cớ gì, theo số đông, tùy tùng. Sự vật trong thiên hạ đều phải tùy thời mà động. Đoài là thể, sự việc có thể thuyết phục, thuyết phục thành công. Chấn là thế, uổng phí lời nói và hành động, trái lại có tai vạ, bị liên lụy. Khắc con trai trưởng, có tai họa đổ máu, đồ kim loại sắc bén làm tổn thương, phá tướng, quan phi khẩu thiệt, bệnh gan, chuột rút, lẩm bẩm một mình.

—-

; Tự giúp người giúp, vạn vật đều quy phục.

2 Phẩm đức cao thượng của người quân tử khó nhọc và nhún nhường, bên trong phong phú.

* Sự biến động của quan hệ hôn nhân trong gia đình. Thường chỉ vợ chồng ly dị hoặc có ngoại tình.

Cổ

Sơn Phong Cổ. Quái tượng: Thượng Cần hạ Tốn. Quẻ Cổ, dưới núi có gió, gió bị núi cản trở không lưu thông, tĩnh chỉ bất động, tượng hủ bại. Mê hoặc, phá gia chi tử, xâm thực, phát sinh sự cổ, trị lý chỉnh đốn. Mặc cho gió lớn thổi mạnh, bản thân ta sừng sững bất động và phòng thủ điềm tĩnh. Cần là thể thì hung, Tốn là thể thì mưu sự có thể thành, trẻ nhỏ nhiều bệnh, tổn hại tiểu khẩu (người chưa đến tuổi trưởng thành). Tỳ vị không khỏe, mũi mẫn cảm, khứu giác nhạy bén, lưng nặng nề, chân có bệnh, có nguy hiểm bị rắn, chó, bò cắn.

Lâm 

Địa Trạch Lâm. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Đoài, tượng quẻ đại Chấn. Quả Lâm, bên dưới có hang động, có suối phun ra. Sắp đến, tự mình đến, hỷ đến, vui vẻ, tự mình tham dự, lấy trên vỗ về dưới, lấy quý trị hèn. Tích nhiều đức tốt ở một đời. “Chỉ thành chỉ làm đích nhân sinh, cương chính hòa thuận hóa dục bất tức’.” Khôn là thể, thất thoát hao tổn. Đoài là thế, có phúc ngồi không hưởng lộc.

Lợi cho con gái nhỏ, là ngọc quý trên tay của mẹ, được yêu thương chăm sóc. Đoán hôn nhân, lão mẫu kết hợp thiếu nữ, tất hôn biển. Bệnh về bụng, phẫu thuật bụng, trên người có sẹo.

Quan 

Phong Địa Quan. Quái tượng: Thượng Tồn hạ Khôn, tượng quê đại Cần. Quẻ Quan, gió đi trên đất, gió lướt nhẹ qua mặt đất, quan vọng”, theo đuổi, thưởng thức, quan sát, xem xét, nghe ngóng, trừng phạt, khuyên răn. “Sát dân tỉnh, thiết giáo hóa.” Tốn là thể thì mưu sự có thể thành, Khôn là thể thì có tai họa. Có thị phi, sức khỏe kém, cữu đương chủ mẫu (tai họa cho mẹ), nữ đoạt quyền mẹ. Có bệnh ruột và dạ dày, tổn thương lá lách, bệnh đường hô hấp, liệt chi dưới, chứng bán thân bất toại, phong thấp. Quan lại là đại Cần đại chỉ, có ý nghĩa là tĩnh quan’ bất động.

—-

1 Nhân sinh chỉ thành chỉ lâm, chính trực hòa thuận hóa dục không ngơi

* Đặt mình ở ngoài sự việc và lặng yên quan sát tình hình phát triển.

3

Quan sát tình cảnh của dân, đặt ra giáo hóa,

Phệ Hạp 

Hỏa Lôi Phệ Hạp. Quái tượng: Thượng Ly hạ Quẻ Phệ Hạp, hỏa được mộc sinh, sấm vang chớp giật. Nói về ăn, vật nhai vỡ trong miệng, có lộc ăn, thức ăn. Phán quyết vụ án, trừ bạo an dân. Người hay nóng nảy, dễ kích động. Trạm phát điện, Ly là thể, tài quan vượng, Chấn là thể, thất thoát hao tổn. Sốt cao, bệnh tim, đánh trống ngực, tim đập quá nhanh, bệnh mạch máu não do hưng phấn, can hỏa vượng.

Bí 

Sơn Hỏa Bí. Quái tượng: Thượng Cần hạ Ly. Quẻ Bí, dưới núi có lửa, vạn vật tỏa ra ánh sáng rực rỡ của nó, trang trí, chỉnh lý, đẹp, thu thập, lễ nghi, nghênh hôn, cầu hôn. Cúng tế, có sự việc phát sinh khiến người vui mừng, vui vẻ, con cháu hưng vượng, ruộng vườn phú thịnh, có tiền của phi nghĩa. Núi lửa. Cần là thể đại cát, Ly là thể tiết khí thất thoát hao tổn. Đoán số tối đa là 3; lợi cho người trẻ tuổi. Huyết khối tim, tuần hoàn máu không thông, nhồi máu cơ tim.

Bác

Sơn Địa Bác. Quái tượng: Thượng Cần hạ Khôn. Quả Bác, núi cao tựa vào đất, cao tựa vào thấp, dương cứng bác lạc (rơi rụng), đẽo gọt, gõ đập, nát rữa, ngã bị thương, người già quy sơn nhập mộ, âm thịnh dương suy, đạo của tiểu nhân lớn mạnh, tiểu nhân đắc thế, người nữ được quẻ này là nữ trung hào kiệt, cân quắc anh hùng”, nữ năng nhân”, nữ cường nhân”. Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quả Khiêm. Ngoài ra còn có tượng chi dưới bủn rủn vô lực. Ngã bị thương, có tượng quy sơn nhập thổ.

Phục

Địa Lôi Phục. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Chấn. Què Phục, quê động đất. Một dương phục khởi, dương cương bắt đầu sinh, vạn vật hanh thông. “Dương cương phục hồi, quân tử đạo sinh.” Phản hồi, hồi phục, phục hưng, hưng thịnh lúc đầu, đi đi về về, lặp đi lặp lại, tự mình phấn đấu, kiên định tiến thủ. Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quả Dự. Ngoài ra còn có suy nghĩ trầm tĩnh, có tính khí sầu muộn khá lớn, chứng thần kinh phân liệt.

Vô Vọng

Thiên Lôi Vô Vọng. Quái tượng: Thượng Căn hạ Quẻ Vô Vọng, sấm động dưới trời, sấm sét giữa trời quang, bất ngờ, làm bừa ắt có tai họa bất ngờ, đắc ý vênh váo mà chuốc lấy tai họa. Không kỳ vọng, không hư vọng. Ảo tưởng thiếu thực tế, việc lớn động trời. Chân thực khách quan, “thành hóa chi sinh sinh đại hữu, tân nhân đạo nhi hợp thiên đức, hoạt lực nhi kiện.” Càn là thể, mưu sự thành công, lợi tài quan, Chẵn là thể, có tai họa, việc khó thành, nhiều tranh chấp, cấp trên áp chế phê bình, nhiều tiểu nhân. Khắc trưởng nam, tổn thương chân, đau đầu, não minh, bệnh gan, phì đại gan, xơ gan.

Đại Súc

Sơn Thiên Đại Súc. Quái tượng: Thượng Cẩn hạ Quả Đại Súc, lên núi cao thỏa sức nhìn chuyện thiên hạ. Không có gì lớn bằng trời, không có gì dừng bằng núi, Càn là tiến, Cần là dừng, không cho tiến lên, luôn luôn tồn trữ tích tụ, tích trữ nhiều. Ngay thắng mạnh mẽ, cần cù không ngơi nghỉ, từ đó tích trữ và giàu có, dư dật. Uấn súc, súc chỉ. Trong núi có tàng trữ kim loại khoáng thạch, phía dưới có ẩn tàng vàng ngọc châu báu tiền tệ.

Tượng trong phần mộ có cương thi. Cần là thể, thất thoát hao tổn, hiểu thuận cha chú, lấy lòng cấp trên. Càn là thể, được tiền của bất ngờ, thăng chức, thành đại nghiệp. Tỳ hư vị hàn, tăng sinh xương, u xương. Người trẻ tuổi cơ thể hư nhược.

Di 

Sơn Lôi Di. Quái tượng: Thượng Cần hạ Chấn, quẻ đại Ly. Quẻ Di, hai hào dương ở ngoài, ngoài thực trong hư, ngoài cương trong nhu, ngoài lớn mạnh trong rỗng tuếch. Đình chỉ hành động, đình chỉ tư tưởng. Núi lửa tích tụ. Di dưỡng, tự dưỡng, tự mình tìm thức ăn, đạo dưỡng sinh. Quân tử tình ngôn ngữ, dưỡng chỉ dĩ chính (bồi dưỡng chính khí). “Trí linh quy, dưỡng trường sinh.” Cẩn là thể, bị khắc có tai họa, việc khó thành, bất lợi cho người trẻ tuổi. Chấn là thể, lao tâm khổ trí việc có thể chậm hoàn thành. Tổn thương chân, bệnh tỳ vị, hoạt động thụ chế bất tiện, lưng trầm thống’, sỏi mật, ngã bị thương từ chỗ cao, cân thương cốt chiết, bệnh gan.

Đại Quá

Trạch Phong Đại Quá. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Tốn, quẻ đại Khảm. Quẻ Đại Quá, hai hào âm rỗng ở bên ngoài, đoạn chiết (gãy), là tượng quấn quanh trụ cột. Quẻ là quái tượng đại Khảm, Khảm là hiểm, là đại hiểm, dương cương quá nửa, đại quá thì sự vật điên đảo, có tai hiểm lớn. Khoe khoang mà gây nên khẩu thiệt quan phi. Khảm chủ trí, đại quá là tượng đại Khảm, chủ đại trí đại tuệ, minh mẫn, xinh đẹp, bản lĩnh lớn. “Đại quá chi nhân, tài năng độc lập tư thế, kiến lập phi thường đích đại sự công đại đức học.” Khí quản vỡ, tượng cái tủ, tốc độ xe quá nhanh mà xảy ra tai nạn. Đoài là thể, khoe khoang khẩu thiệt. Việc có thể đại thành. Tốn là thể, có đại tai hủy chiết (hủy hoại, gãy). Khắc trưởng nữ, bất lợi hôn nhân, hai nữ ở chung cãi nhau ầm ĩ. Bệnh hen suyễn, đùi bị chiết thương (gãy), tật bệnh can kinh, trên dưới minh ám phá tướng, bị thương vì công cụ kim loại sắc bén, thổ huyết chết sớm, kiếp đào hoa.

Khảm 

Khảm Vi Thủy. Quái tượng: Trùng Khảm, quẻ bát thuần. Quẻ Khảm, là hai Khảm tương trùng, dương hãm âm trung (dương rơi vào trong âm), có ý nghĩa là hiểm hãm, trên hiểm thêm hiểm, trùng trùng hiểm nạn, thiên hiểm, địa hiểm. Hiểm dương thất đạo, uyên thâm bất trắc (sâu xa không đoán được), dòng nước uốn lượn, đời người trải qua quanh co gập ghềnh. Tuyệt đỉnh thông minh, “tâm thành hành hữu công” (tâm thành thật sẽ có công). Quẻ

Ly 

Ly Vì Hỏa. Quái tượng: Trùng Ly, quẻ bát thuần. Quẻ Ly, Ly minh lưỡng trùng, ánh sáng rực rỡ, hỏa tính viêm thượng, đoàn kết nương tựa. Ly tán, ly khai, phân ly. Phàm quẻ bát thuần là giúp đỡ nương tựa lẫn nhau, nhưng lại có tính chất đồng tính tương xích. Tuy tỷ hòa, nhưng bên trong có xung đột, mưu sự có thể thành, nhưng có trắc trở, bệnh mắt, bệnh tim, cao huyết áp, chứng phế hư.

Hàm

Trạch Sơn Hàm. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Cấn. Quẻ Hàm, Đoài khí ở trên, Cẩn khí ở dưới, hai khí cương nhu tương hàm (hòa hợp với nhau), tương ứng, tấn tốc (cấp tốc). “Chỉ thuyết bất hành, đạo thính đồ thuyết”.” Hồ nước trên núi, miệng núi lửa, hang động núi, thùng múc nước treo trên giếng. Đoài là thể tiền tài có thể được, Cẩn là thể đại phá hao, phá tổn. Khoang miệng lở loét, chân què, vết thương do dao chém, ngã bị thương dẫn tới minh ám phá tướng.

Hằng 

Lôi Phong Hằng. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Tốn. Quẻ Hằng, lôi động phong tán, âm dương tỷ hòa, vĩnh hằng trường cửu, bền lòng, hợp quần tăng sức mạnh. Thế sự vô thường, vận khí thay đổi thất thường, lúc tốt lúc xấu, “ưu hoạn trung cầu thành công chi đạo”.” Vú đau nhức, bệnh gan mật, chức năng tỳ vị kém. Quẻ tỷ hòa, việc thuận có thể thành, cầu tài quan hôn nhân đều cát, thường được người giúp đỡ.

Độn

Thiên Sơn Độn. Quái tượng: Thượng Càn hạ Cẩn. Độn, trời cao ở trên, dưới trời có núi, núi dừng ở đất, viễn sơn nhân tàng, độn sơn bất tiến, lui tránh ẩn nấp. Từ bỏ hành động, xa lánh tiểu nhân. Vị trí cao, giàn tháp kim loại cao, tháp tiếp sóng truyền hình, núi lớn, núi cao. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Đại Súc.

Đại Tráng

Lôi Thiên Đại Tráng. Quái tượng, Thượng Chân hạ Càn. Quẻ Đại Tráng, sấm động trên trời, cường thịnh tráng đại, “dương cương sung phái, tráng tại chính đại’.” Tráng thịnh thì dừng, cương cực thì đến chỗ tổn thương, hung nguy, vô định. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Vô Vọng.

Tấn

  Hỏa Địa Tấn. Quái tượng: Thượng Ly hạ Khôn. Quẻ Tấn, mặt trời từ đường chân trời nhô lên, tiến tới tỏa sáng, ly nhật tự chiếu, tấn thăng thượng tiến, ban ngày. “Quang minh lỗi lạc, duyên đồng loại dĩ thăng tiến (tiến cử đồng loại để thăng tiến), hậu lễ quảng tư, đại minh tiếp vật (giao thiệp trong sáng), tự chiều minh đức (tự làm sáng tỏ minh đức).” Ly là thể thất lạc phá hao, Khôn là thể thì có hỷ tiền tài vinh hiển. Hôn sự không tốt, phòng biến cố. Thị giác kém, tim suy kiệt, bệnh máu, vị tà hỏa.

Minh Di

  Địa Hỏa Minh Di. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Ly. Quẻ Minh Di, ánh sáng đi vào trong đất, tượng tối tăm. Tổn thương, hắc ám, minh thương (ánh sáng bị thương tổn), chém giết, thời thể hôn ám. “Ưu hoạn chi nhân văn sinh mệnh, nội chi minh ngoại nhu thuận dĩ mông đại nạn.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tấn. hạ Ly.

Gia Nhân

Phong Hỏa Gia Nhân. Quái tượng: Thượng Tốn Quẻ Gia Nhân, phong tự hỏa xuất (phong sinh ra từ hỏa), phong trợ hỏa thế, người một nhà, gia đình thân hữu, người cùng thế hệ, bạn bè, người nhà, đồng đạo, tập hợp vào trong. Phong đuổi chớp lóe. Phong tán hỏa dễ tắt. Vui mừng, văn minh, nhà vui vẻ giàu có. Tốn là thể tài không tụ. Ly là thể học nghiệp thành công, sốt cao, bệnh tim, bệnh về máu, viêm bộ phận đùi.

Khuê

Hỏa Trạch Khuê. Quái tượng: Thượng Ly hạ Đoài. Quẻ Khuê, hỏa viêm ở trên, trạch trái lại ở dưới, hai nữ đồng cư, chí hướng của họ bất đồng, khuê vi (xa cách), quái dị (chuyện quái dị). Nhìn, xem, quan sát, quan vọng, lưu ý. Vật kim loại phát sáng, bình đun nước, cái chén, tivi. Bỏng, bị thương vì công cụ sắc bén, viêm khoang miệng, viêm đường hô hấp, huyết áp thấp. Hỏa hoạn, ám phá tướng.

  Ly là thể mưu sự có thể thành.

  Đoài là thể có tai họa đổ máu. 

Kiển 

Thủy Sơn Kiển. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Cấn. Quẻ Kiển, cao sơn lưu thủy, Khảm ở trước, Cấn chỉ ở sau, hiểm nạn trước mặt, tai nạn. Giao thông bị cản trở, phi sơn việt hải (băng ngàn vượt biển), viễn độ trùng dương (đường sá xa xôi). “Càng gánh vác gian nan càng phát triển trí tuệ, thấy nguy hiểm phía trước, thong dong điềm tĩnh, đợi thời hưng phát.” Thác nước. 

Bệnh thận, bệnh hệ tiết niệu, thận và hệ tiết niệu kết sỏi, bệnh về máu, bệnh chân, bệnh ngón tay, tại bế tắc.

  Khảm là thể, có tai họa. 

  Cấn là thể, lợi cầu tài. 

Giải 

Lôi Thủy Giải. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Khảm. Quẻ Giải, giao long đắc thủy (giao long gặp nước), trong Khảm hiểm mà động tránh hiểm nạn, sấm mưa nhiều lần xuất hiện, âm dương hòa sướng, muôn vật tùng giải (thả lỏng) trạch nhuận (sáng bóng). Giải thoát, giải trừ tai nạn, giải tán, giải quyết, tan rã. “Lôi vũ động, vạn vật sinh phát.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Truân.

Tổn

Sơn Trạch Tổn. Quái tượng: Thượng Cấn hạ Đoài. Quẻ Tổn, dưới núi có đầm, núi cao đầm sâu, giảm độ sâu của nó, tăng độ cao của nó, giảm tổn, phá tổn, tổn hại, tổn thất, giảm thiểu, khởi điểm suy yếu, tổn thương. Quân tử “tổn dĩ tu đức, tổn dĩ tu kỷ, tổn dĩ ích.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Hàm. Ngoài ra còn có nội phá tướng, thương tật chân.

Ích 

Phong Lôi Ích. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Lôi.

Quẻ Ích, phong lôi đan xen, tổn trên ích dưới, tăng lợi ích lẫn

nhau, được lợi. Khởi điểm hưng thịnh, trinh khiết. “Khắc kỷ như ích thiên vạn nhân.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quả Hằng,

Quải 

Trạch Thiên Quải. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Càn, Quả Quải, đầm ở trên trời, trời cao mây bay. Quyết đoán, quyết khứ, đoạn tuyệt quan hệ, quả đoán, giải quyết, kết thúc, cắt đứt, tiêu trừ. “Quả quyết kỳ sở đương quyết, kiện nhi duyệt, quyết nhi hòa.” Trưởng bối, cấp trên vui vẻ, được sự giúp đỡ của trưởng bổi, lãnh đạo cấp trên, làm việc thì còn có chỗ khiếm khuyết, thường không hoàn toàn như ý người. Phần đầu có phá tướng. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Lý.

Cấu

Thiên Phong Cấu. Quái tượng: Thượng Càn hạ Tốn. Quẻ Cấu, dưới trời nổi gió, âm dần dần trường thịnh, quân vương phát bổ văn cáo, thi hành mệnh lệnh, cáo tri tứ phương. Nhu gặp cương thì tráng, tao ngộ câu thông (gặp gỡ trao đổi), mệnh lệnh. Một âm địch năm dương, nữ tráng chớ lấy. Chân có phá tướng. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tiểu Súc.

Tụy

Trạch Địa Tụy. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Khôn.

Quẻ Tụy, đầm ở trên mặt đất, trên mặt đất có vũng nước, hồ nước, rãnh nước, miệng giếng. Hòa thuận mà vui vẻ tụ họp, tụ ở giữa, hội họp, hấp thu, hấp thụ, tập hợp nhiều cái đẹp và vui vẻ. Phần đầu có phá tướng, chi dưới bủn rủn vô lực, tiểu nhân, mẹ kế, ngông cuồng.  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Lâm.

Thăng 

Địa Phong Thăng. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Tốn.

Quẻ Thăng, cây sinh ra từ trong đất, sinh trưởng mà cao lên. Lên cao, không xuống, phá thổ mà xuất, thẻ tre. Trúng gió xuất huyết não, chân có phá tướng. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Quan.

Khốn 

Trạch Thủy Khốn. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Khảm

Quẻ Khốn, Khảm ở dưới Đoài, hà trạch vô thủy (sông, đầm

không có nước). Khốn cùng, nguy cơ, gặp gian nan, tai nạn ốm đau cùng đến, tai nạn mang tính hủy diệt, bệnh chứng, việc không thuận, giữ mình đợi thời. Phần đầu có phá tướng, có thủy ách (chết đuổi), 2 tuổi, 6 tuổi, 20 tuổi, 26 tuổi, 62 tuổi có tai bệnh. 

Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tiết.

Tỉnh 

Thủy Phong Tình. Quái tượng: Thượng Khảm hạ

Quẻ Tỉnh, mộc nhập thủy xuất, tượng múc nước giếng lên,

thông đạt, trôi chảy, tư dưỡng (nuôi dưỡng), vững chắc. “Lao khổ, ổn thận, xử ưu hoạn; thường cổ bất thiên’.” Thực vật trong nước, rong biển, cỏ biển. Khảm là thất thoát phá hao, Tốn là thể có hỷ tiến ích, mưu sự cát. Có thủy ách, phong thấp đau nhức, bệnh túi mật, chứng thận hư.

Cách 

Trạch Hỏa Cách. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Ly.

  Quẻ Cách, Đoài là đầm là nước là nồi mở nắp, Ly hỏa nấu

thủy, thủy hỏa tương tức (biến đổi bản tính lẫn nhau), biến hóa

canh tân, biến cách trần cựu (thay đổi những thứ cũ kỹ), có bàn về chuyện tù ngục. Cách tân, không bảo thủ, cách mạng, đổ máu, bị thương. Phần đầu có phá tướng. 

  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Khuê.

Đinh 

Hỏa Phong Đỉnh. Quái tượng: Thượng Ly hạ Tốn.

Quẻ Đỉnh, mộc trợ hỏa vượng, nấu nướng thức ăn. Trên dưới

không thông suốt, thuận lợi vừa phải, canh tân liên tục, lập tân (đổi mới), đỉnh lập (thế chân vạc), vấn đỉnh đoạt quan. Gãy chân, phá chân. “Ngưng trùng an định dĩ tân mệnh, khứ phù hoa dĩ dụng thực tài, hỏa mộc tương sinh, mộc hoa đắc đương!” 

  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Gia Nhân.

——

1 Cực khổ, thận trọng vững vàng, ở trong gian nan khổ cực, luôn luôn kiên định không dời.

Chấn

Chấn Vi Lôi. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Chấn, quẻ bát thuần.

Quẻ Chấn, trùng lôi giao điệp, tương dữ vãng lai (cùng nhau

đi lại), chấn động mà khởi xuất. Chấn động, kinh sợ là hét, hai ba suy nghĩ, hiếu động. Tạo dựng sự nghiệp, thanh danh đại chấn.

Rừng rậm, rừng cây. Quẻ bát thuần, cát thuận nhưng có trắc trở, can vượng dễ tức giận, bệnh gan, chuột rút, tỳ vị tổn thương.

Cấn

Cấn Vi Sơn. Quái tượng: Thượng Cấn hạ Cấn, quẻ bát

Quẻ Cẩn, ngoài núi có núi, núi liền nhau. 

Bất động, tĩnh chỉ, đình chỉ, khắc chế, trầm ổn, ổn định, chỉ kỳ sở dục (ngăn dục vọng lại), gánh nặng. Hai bàn, hai giường liền nhau, giường tầng, trên giường, dưới bàn. Đoán đi xa, không thể xuất hành, người đi không về. Ung thư, mụn trứng cá, lên sởi, khối u, mụn nước, bệnh tỳ vị, thận, chứng kết sỏi.

Tiệm 

Phong Sơn Tiệm. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Cẩn.

Quẻ Tiệm, cỏ cây mọc từ từ ở trên núi, cỏ cây tích lũy mà

thành đồi, đồng cỏ. Tiệm tiến, có thứ tự, dần dần, từng bước tiến tới. Núi muốn tĩnh, gió chẳng ngừng. “Nội chi tĩnh, ngoại Tổn thuận, hoạt động bất cùng.” Tốc độ xe quá nhanh, gió đi ở đỉnh núi, có nguy hiểm tai nạn xe cộ, vui đùa chạy mà ngã bị thương. 

  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Cổ.

Quy Muội 

Lôi Trạch Quy Muội. Quái tượng: Thượng Chẩn hạ Đoài.

Quẻ Quy Muội, trên đầm có sấm, tiến tất hữu sở quy (tiến tất

có chốn quay về), cô gái về nhà chồng, về nhà, trở về. “Thuyết dĩ tài, hỏa mộc tương sinh, mộc hoa đắc đương!” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Gia Nhân.

—-

1

Trang trọng an định theo vận mệnh mới, bỏ hào nhoáng để dùng thực tài, hòa mộc tương sinh, mộc hỏa thỏa đáng.

Chấn

Chấn Vi Lôi. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Chấn, quẻ bát thuần.

Quẻ Chấn, trùng lôi giao điệp, tương dữ vãng lai (cùng nhau

đi lại), chấn động mà khởi xuất. Chấn động, kinh sợ la hét, hai ba suy nghĩ, hiếu động. Tạo dựng sự nghiệp, thanh danh đại chấn.

Rừng rậm, rừng cây. Quẻ bát thuần, cát thuận nhưng có trắc trở, can vượng dễ tức giận, bệnh gan, chuột rút, tỳ vị tổn thương.

Cấn

Cấn Vi Sơn. Quái tượng: Thượng Cấn hạ Cấn, quẻ bát thuần

Quẻ Cấn, ngoài núi có núi, núi liền nhau. Bất động, tĩnh chỉ,

đình chỉ, khắc chế, trầm ổn, ổn định, chỉ kỳ sở dục (ngăn dục vọng lại), gánh nặng. Hai bàn, hai giường liền nhau, giường tầng, trên giường, dưới bàn. Đoán đi xa, không thể xuất hành, người đi không về. Ung thư, mụn trứng cá, lên sởi, khối u, mụn nước, bệnh tỳ vị, thận, chứng kết sỏi.

—-

1 Trang trọng an định theo vận mệnh mới, bỏ hào nhoáng để dùng thực tài, hỏa mộc tương sinh, mộc hỏa thỏa đáng.

Tiệm

Phong Sơn Tiệm. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Cẩn.

Quẻ Tiệm, cỏ cây mọc từ từ ở trên núi, cỏ cây tích lũy mà

thành đồi, đồng cỏ. Tiệm tiến, có thứ tự, dần dần, từng bước tiến tới. Núi muốn tĩnh, gió chẳng ngừng. “Nội chỉ tĩnh, ngoại Tốn thuận, hoạt động bất cùng.” Tốc độ xe quá nhanh, gió đi ở đỉnh núi, có nguy hiểm tai nạn xe cộ, vui đùa chạy mà ngã bị thương. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Cổ.

Quy Muội

Lôi Trạch Quy Muội. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Đoài.

Quẻ Quy Muội, trên đầm có sấm, tiến tất hữu sở quy (tiến tất

có chốn quay về), cô gái về nhà chồng, về nhà, trở về. “Thuyết dĩ động hôn nhân, thiên chi đại nghĩa, nhân chi thủy chung, duyệt đi động!.” 

Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tùy.

Phong

Lôi Hỏa Phong. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Ly.

Quẻ Phong, sấm chớp nhiều lần xuất hiện, quang minh và

động, thu được quả lớn, hoan lạc thịnh đại. Phong phú phong thịnh đến cực điểm thì nhiều sự cổ, xung động, nóng nảy, kích động dẫn đến bệnh tim. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Phệ Hạp.

Lữ

Hỏa Sơn Lữ, Quái tượng: Thượng Ly hạ Cẩn.

Quẻ Lữ, trên núi có lửa. Lữ hành, trọ ở ngoài, ra ngoài. Ít

người thân và bạn bè. Tượng không an định. Hỏa hoạn, núi lửa, bó đuốc, yên hỏa đài (đài đốt lửa báo động). “Cư bất an, nhi đạo bất phế, hỏa lệ cao nhi minh như thận?” Tim ngừng đập, mắt đờ đẫn, một cặp tử tướng (tướng người chết). 

  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Bí

Tốn

Tôn Vi Phong. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Tốn, quẻ bát thuần.

Quẻ Tốn, “nhu nhi hựu nhu, tiền phong vãng nhi hậu phong

phục hưng, tương tùy bất tức, nhu hòa như xuân phong, tùy phong nhi thuận.” Tốn thuận, thuận theo, tiến nhập mà hạ phục. Trùng

Tốn hạ lệnh, khí công, hai giường hai bàn tương liên, làm sinh ý có thể được lợi ba lần, ít tóc, cỏ cây chúng sinh. Sôi nổi, ngồi không yên, tĩnh chẳng được, đoán việc tỷ hòa cát. Bệnh gan mật, đau thần kinh tọa, đùi đau nhức, phong thấp trúng gió, tỳ vị không tốt.

1 Bàn về hôn nhân, nghĩa lớn của trời, khởi đầu và kết cục của người, vui

2 ở không yên, nhưng đạo không bỏ, lửa dựa vào cao và sáng mà dè

chứng.

3- Nhu rồi lại nhu, gió trước đi rồi gió sau lại nổi, theo nhau không ngừng, êm dịu như gió xuân, theo gió mà thuận.

Đoài

Đoài Vi Trạch, Quái tượng: Thượng Đoài hạ Đoài, quẻ bát thuần.

Quẻ Đoài, vui vẻ thấy rõ, vui vẻ rọi đến người, thao thao bất

tuyệt, giỏi lời lẽ, cao hứng, đất đầm lầy, hang động, phế huyệt,

hỏng tưởng phá nhà, hố trũng, rãnh nước ngang dọc. Đoán việc như ý vui lòng. Bệnh miệng, bệnh khí quản, bệnh phổi, mặt rỗ, bệnh gan mật, đùi đau nhức, tai họa đổ máu, làm phẫu thuật.

Hoán

Phong Thủy Hoán. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Quẻ Hoán, gỗ nổi ở trên nước, mặt nước nổi gió, thuyền đi ở trên nước. Rời rạc, ly tán, “tế hiểm hữu cự” (có dụng cụ cứu tế nguy hiểm). 

Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tỉnh.

Tiết

Thủy Trạch Tiết. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Đoài.

Quẻ Tiết, sông đầm đầy nước, nhưng cần tiết kiệm nước

dùng, chấm dứt xa xỉ, tiết kiệm. Nước tràn, đồ đựng nước, miệng vết thương chảy máu mủ, bệnh tật khoang miệng (miệng, răng, lưỡi, yết hầu v.v), họ, đàm suyễn, miệng niệu đạo, tật bệnh hậu môn, huyết áp thấp, ngoại thương, bệnh khí quản, khí hư, tổn thương phần đầu. 

Khảm là thể, việc có thể thành.  

Đoài là thể, có tai họa hoặc bệnh, phá hoại lại việc khó thành.

Trung Phu

Phong Trạch Trung Phu. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Đoài.

Quẻ Trung Phu, là quái tượng đại Ly, chữ tín, thành tín tương

cảm, tín thủ trung đạo, ngực có sẵn cây tre (trong lòng đã có dự

tính). Vô định hướng, tâm bất định. Có bàn về chuyện tù ngục.

Ngoại cương nội nhu, ngoại thực nội hư. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Đại Quá.

Tiểu Quá 

Lôi Sơn Tiểu Quá. Quái tượng: Thượng Chân hạ Quẻ Tiểu Quá, là quái tượng đại Khảm, núi cao sấm vang, núi lớn sấm nhỏ, tiểu hữu sở quá, ẩn phục nguy hiểm, nhưng tâm tĩnh

chế động, “tiểu quá thường dĩ thành đại nghiệp.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Di.

Ký Tế

Thủy Hỏa Ký Tế. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Ly.

– Ý nghĩa là làm việc nhỏ, phát triển phạm vi nhỏ thì có thể, còn muốn làm sự nghiệp lớn hoặc thành đại sự, thì sợ rằng không thể như ý.

Quẻ Kỷ Tế, Khảm thủy ở trên, Ly hỏa ở dưới, thủy hỏa tương

giao, hai khí tương cảm, đại công cáo thành. Hai sự vật mâu thuẫn tương phụ tương tế (trợ giúp lẫn nhau), thúc đẩy sự nghiệp hoàn thành. Nhưng Ký Tế chi cực, hiểm thể ở trên, cần phải nhớ phòng bị trước hoạn nạn. Khảm là thể, việc có thể thành, Ly là thể có tai họa, hôn nhân chính phối, ý hợp tâm đầu. Có tai nạn hỏa và thủy, thị giác kém, bệnh thấp tim, bệnh về máu, bệnh thận.

Vị Tế 

Hỏa Thủy Vị Tế. Quái tượng: Thượng Ly hạ Khảm.

Quẻ Vị Tế, hỏa ở trên thủy, hai khí không tương giao, việc

chưa thành công, việc bất lợi, không có kết cuộc, vĩnh viễn không kết thúc. Nam nhân khốn cùng. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Ký Tế.

Tượng ý của 64 quẻ trên đây không cần ép buộc ghi nhớ, chỉ

cần nhớ thủ tượng cơ bản của bát quái, sau khi đã quen thuộc với tượng loại vạn vật bát quái, thì tự nhiên hiểu biết, trong vận dụng để lãnh ngộ, tự nhiên hiểu rõ, từ đó giảm thiểu tối đa khối lượng ghi nhớ và thời gian học tập.

 Minh (sáng), tiến thăng, phụ thuộc, hoa lệ, tươi đẹp,

văn minh, lễ nghi, minh sát (xem xét rõ ràng), nôn nóng, kích động, bài xích, kháng cự, phủ định, phê phán, lưu hành, tổ giác, trinh sát, khiếm nhã, hiển thị, tự mãn, lời đường mật, nói dối, khô héo, khô khan, trống rỗng v.v.

Nhân vật; Trung nữ, văn nhân, người bụng to, người đau mắt,

người đội mũ bảo hiểm, binh lính.

Tính cách: Trọng lễ, mỹ mạo, có tính ỷ lại, thông minh hiểu

học, xử sự khiêm tốn, có tri thức hiểu lễ nghĩa, nội tâm trống rỗng, thích sách và văn chương, nóng tính, dễ kích động, hiếu động, hiểu thảo, tà ác.

Nhân thể: Mắt, tim, thị giác, hồng cầu, máu, vú, thượng tiêu,

đầu và mặt, yết hầu, ruột non.

1 Mũ sắt và áo giáp.

Tật bệnh: Bệnh mắt, bệnh thị giác, bệnh tim, bị bỏng, bệnh

phóng xạ, bệnh tuyến sữa, sốt, bệnh nhiệt, viêm, nước tiểu đỏ

vàng, bệnh máu, bệnh phụ khoa, u nang khuếch tán, chứng phì đại (phì đại tuyến tiền liệt, tăng sinh, nhũ tuyến tăng sinh, tim phì đại), bệnh huyết áp.

Thiên tượng: Trời nắng, trời nóng, hè nóng bức, mặt trời chói

chang, khô hạn, mặt trời sáng rực, cầu vồng, ánh sáng, ráng mây, chop.

Động vật: Chim trĩ, chim công, phượng hoàng, cun cút, các

loài chim có lông đẹp, cá vàng, cá nhiệt đới, tắc kè hoa, tôm, cua, sò, rùa, ba ba, đom đóm, bọ vỏ cứng.

Vật tượng: Văn học, nghệ thuật, mỹ thuật, tranh chữ, văn khoa, y khoa, văn kiện, văn chương, sách báo, tạp chí, bản đồ, sách giáo khoa, văn thư, con dấu, giấy chứng nhận, chứng khoán, thư từ, hợp đồng, hoa, đồ vật đẹp, lá cờ, quảng cáo, giấy khen, điện thoại, điện báo, diêm, bật lửa, bếp lò, nồi hơi, động cơ điện, động cơ đốt trong, thuyền trống, cửa sổ kính, toa xe lửa, tàu điện, xe kiệu, súng phun lửa, bom cháy, mỏ hàn, thịt khô, mứt, món xào, đồ nướng, bếp gas hóa lỏng, lò nướng, cái lồng, bình, hộp, túi lưới, quần áo vải hoa.

Nơi chốn, kiến trúc: Mảnh đất hướng về phía mặt trời,

thắng cảnh, thánh địa, giáo đường, cung điện, đại lễ đường, trường học, viện bảo tàng, phòng triển lãm, nhà hát, sở giao dịch chứng khoán, ngân hàng, thư viện, cửa hàng thư họa; nhà máy điện, nhà in, bệnh viện, khoa phóng xạ, khoa kiểm nghiệm, nhà bếp, đại sảnh lộng lẫy, núi lửa, miệng núi lửa, nơi hỏa hoạn, ban công; bộ đội, doanh trại, đồn công an, cục công an, tòa án, viện kiểm sát, lò lửa, nhà máy luyện kim, nhà kho, nhà trống, cầu cống, cầu vượt, kiệu, lều, ga xe lửa; tháp canh, đài truyền hình, tháp (bảng) quảng cáo, khu vực săn bắn, khu vực câu cá.

Thời gian có lợi: Năm tháng ngày giờ Bính Đinh Tị Ngọ Giáp Ất

Dần Mão. Kỵ năm tháng ngày giờ Nhâm Quý Hợi Tý.

Phương vị có lợi: Phương Đông, Nam, Đông Nam. Kỵ phương

Bắc, tiếp theo là kỵ phương Đông Bắc, Tây Nam.

Màu sắc: Hỷ đỏ, xanh lá cây. Kỵ màu đen.

Quái Cấn

Quẻ Cần một hào dương ở trên, hai hào âm ở dưới, số của nó

là 7, ngũ hành thuộc thổ, ở phương Đông Bắc, màu vàng.

“Cẩn là núi, là đường nhỏ, là đá nhỏ, là cửa cung, là trái cây,

là người gác cổng, là ngón tay, là chó nhà, là chuột, là chim thú

miệng đen. Về cây cối, là cành cây có nhiều mấu cứng.”

Quẻ Cẩn một hào dương ở trên, hai hào âm ở dưới, biểu thị sự

vật bề ngoài thực (đặc) bên trong hư (rỗng), trên thực dưới hư.

Cũng biểu thị xu thế phát triển hướng xuống, sự vật đã phát triển đến đỉnh điểm, phải cẩn thận, nếu không thì sẽ phát triển theo hướng ngược lại. Đồng thời biểu thị sự vật có trắc trở, đình chỉ không tiến. 

Cấn là núi là dừng, một hào dương ở thượng của Khôn thổ, cho nên có tượng đá nhỏ. Hào dương ở trên nối liền, hai hào âm ở dưới rỗng ở giữa, cho nên có tượng cửa. Quả của cây đều nằm ở bộ phận trên, không nằm ở rễ, là tượng dương, cho nên quẻ

Cấn là tượng trái cây. Người gác cổng cấm người vào trong, cho nên Cấn là tượng dừng. Tay có thể ngăn cản vật thể, chó sủa có khiến người sợ hãi dừng lại không tiến, răng chuột cứng nhọn, chim cứng ở mỏ, đều là tượng của Cấn. Cấn là tượng đá nhỏ, cành cây có nhiều mẫu cứng cũng có tượng như vậy. Dựa vào quái tượng, 

Cấn còn có các ý nghĩa sau đây:

Tượng ý: Cấm đoán, trở ngại, cản trở, tĩnh chỉ, bảo vệ cẩn

thận, giới hạn, đè nén, an cư, bình tĩnh, vắng lặng, thay thế, ẩn

tàng, cố chấp, chủ quan, ngang bướng, đường phân nước, bắt đầu lại, tiêu chuẩn, độc lập, chuyển biển, chuyển hướng, kiện tụng, nhà tù, thật thà, tiêu vong, dặn dò, chờ đợi, hậu trọng, da, lưng, tối thiểu, tối đa.

Nhân vật: Con trai nhỏ, người gác cổng, người dẫn đầu.

Tính cách: Thật thà phúc hậu, an tĩnh, thật thà, bảo thủ, cổ

chấp, thành thực, giữ chữ tín, trì trệ, thận trọng, bất thường.

Nhân thể: Mũi, lưng, mu bàn tay, ngón tay, dạ dày, lá lách,

ngón chân, da, tay, mu bàn chân, khớp gối, khớp khuỷu tay, chân trái, xương gò má, vú.

Tật bệnh: Bệnh lá lách, bệnh dạ dày, bất thực (không ăn), hư

trướng, viêm mũi, bệnh mu bàn tay, bệnh mu bàn chân, bệnh tê

dại, bệnh khớp, bệnh ngón tay, khối u, kết sỏi, bệnh hệ tiêu hóa, chứng khí huyết không thông, tuần hoàn máu không ổn định.

Thiên tượng: Có mây không mưa, nhiều mây âm u, gió núi,

sương mù, điểm chuyển tiếp khí hậu.

Động vật: Các loại thú như động vật có răng, động vật có

sừng, chó, chuột, sói, gấu, v.v; động vật có mỏ như chim khách,

chim dẽ giun, chim cắt, v.v; loài bò sát, côn trùng, gia súc, động vật có đuôi.

Vật tượng: Nham thạch, hòn đá, ván cửa, ghế, giường, tủ,

bàn, bia đá, gỗ cứng, vỏ trái cây cứng, hổ đất, quầy hàng, đồ gốm sứ, cái ô, giày, túi tiền, đoàn tàu, kho bạc, phần mộ, gò đất, sườn núi, chỗ ngồi, bình phong, găng tay, ngưỡng cửa, tường, bậc thềm, thuốc.

Nơi chốn, kiến trúc: Núi, bao đất, gò đất, hòn non bộ, đồi

núi, phần mộ, đê đập, giao lộ, điểm cao nhất, cảnh giới, đường núi, đường nhỏ, vùng mỏ, mỏ đá, lầu các, chùa, phòng ốc, then cửa, phòng cất giữ, tông miếu, từ đường, cái lều, ảnh bích (tường xây làm bình phong ở cổng), tường thành, tường bao, cao ốc, nhà kho, ngân hàng, bến xe, cương vị, nhà tù.

Thời gian có lợi: Năm tháng ngày giờ Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu

Mùi, Bính Đinh Tị Ngọ. Kỵ năm tháng ngày giờ Giáp Ất Dần Mão, tiếp theo là Canh Thân Tân Dậu.

Phương vị có lợi: Phương Đông Bắc, Tây Nam, Nam. Kỵ

phương Đông, Đông Nam.

Màu sắc có lợi: Hỷ đỏ, vàng. Kỵ màu lục.

Quái Đoài

Quẻ Đoài một hào âm ở trên, hai hào dương ở dưới, số của nó

là 2, ngũ hành thuộc kim, ở phương Tây, màu trắng.

“Đoài là đầm, là thiếu nữ, là pháp sư, là miệng lưỡi, là hủy

chiết, là phụ quyết”. Về đất đai, là cứng mặn. Là vợ nhỏ, là con

dê.”

2 Quẻ Đoài và quẻ Cấn bàng thông, tương phản, một hào âm ở

trên, hai dương ở dưới, biểu thị sự vật có xu thế phát triển hướng thượng, sự vật ngoài nhu trong cương, ngoài hư trong thực. Đoài là đầm, cho nên có chức năng hấp thu, dễ dàng trao đổi thông tin với

1 Hủy hoại, gãy. Phụ là bám, quyết là vỡ. Phụ quyết chỉ thứ bám vào bị nứt. các sự vật xung quanh bên ngoài. 

Hào âm gặp ở ngoài, có tượng của miệng lưỡi, thiếu nữ vui vẻ vô ưu, cho nên là vui vẻ, Đoài là miệng là vui vẻ là thiếu nữ, cho nên là pháp sư khiêu đại thần (là một phương thức cầu thần nhập xác). 

Đoài ở Tây là tháng mùa thu Thân Dậu kim, cho nên chủ tục sát (tàn lụi), vạn vật bị hủy chiết, cho nên là hủy chiết. Đoài có một âm nhu bám ở trên hai dương cương, cho nên là phụ quyết.

Quẻ là kim là phương Tây, phương Tây có nhiều đất mặn, cho nên là cứng mặn. Là thiếu nữ, có tượng là vợ nhỏ. Đoài là vui vẻ, dê là động vật cát tường, cho nên là dê.

Đoài còn có các ý tượng sau đây:

Nói, hùng biện, diễn giảng, thông báo, lời lẽ, ngôn ngữ, nghị

luận, cười, chửi, ồn ào, than thở, phỉ báng, rao hàng, ngước, sức hấp dẫn, ái dục, uống thuốc, miệng lưỡi, không đủ, bất tiện, thương lượng, âm nhạc, tín ngưỡng, hư hại, hình phạt, phá hoại, bên phải, sự vật ngoài mềm trong cứng, đồ vật mở miệng phía trên.

Nhân vật: Thiếu nữ, cô gái khả ái, bạn bè, người có nghề

nghiệp liên quan đến dùng miệng hoặc nói hát, người có nghề

nghiệp mang tính vui vẻ, người có nghề nghiệp mang tính phá hoại, pháp sư, bà đồng, giáo viên, giáo sư, người diễn thuyết, người thuyết minh, phiên dịch, ngoại khoa, bác sĩ nha khoa, 

công nhân nhà máy thực phẩm, nhân viên nhà hàng, người gia công kim khí, thư ký, kỹ nữ, không phải trinh nữ, vợ nhỏ, thân thích, người hòa nhã dễ gần, người làm nũng, người hấp dẫn giới tính, tiểu nhân, người làm mối, hình quan (quan lại nắm về hình pháp), 

huyện lệnh, trợ thủ, người cấp phó, hàng xóm, công nhân dọn rác, công nhân vệ sinh, nhân viên truyền đạt, nhân viên phục vụ, nhân viên tổng đài, ca sĩ, diễn viên, nghệ sĩ dương cầm, nhạc sĩ, nhân viên trung tâm giải trí, thằng hề, ca sĩ nữ, nhân vật giới tài chính, nhân viên bán hàng, người thất bại, người phá hoại.

Tính cách: Vui vẻ, cãi lộn, phỉ báng, nịnh bợ, đê hèn, hiếu sắc,

thân mật, hòa thuận, ôn hòa, giỏi nói, thích ca hát, sôi nổi, hiền

hậu, trọng tình cảm, sức hấp dẫn mạnh, trọng nghĩa khí, ưu sầu, phá hoại, gièm pha.

Nhân thể: Miệng, lưỡi, phổi, đàm, khí quản, yết hầu, xương gò

má, răng, sườn phải, hậu môn, vai phải.

Tật bệnh: Miệng, lưỡi, yết hầu, răng, ho, đàm suyễn, ngực,

bệnh phổi, chán ăn, bệnh bàng quang, ngoại thương, bệnh hậu

môn, bệnh sinh dục, thiếu máu, huyết áp thấp, phẫu thuật, bị

thương vì dụng cụ cắt gọt, bệnh ngoài da, bệnh khí quản, bệnh

phần đầu, phá tướng (tổn hại khuôn mặt).

Động vật: Dê, báo, vượn, khỉ, thỏ, vật trong đầm lầy.

Thiên tượng: Mưa nhỏ, thời tiết ẩm thấp, khí áp thấp, mưa

phùn, tình trạng khí tượng ngắn hạn, trăng non, sao, hạt sương.

Vật tượng: Dụng cụ ăn uống, thực phẩm, dụng cụ chứa nước,

tiền kim loại, đao kiếm, cây kéo, đồ chơi, bình hộp mở miệng, vật hư hại, vật khiếm khuyết, vật sửa chữa, vật không có đầu, sản phẩm kim loại trang trí, kim loại mềm, phế phẩm, nhạc cụ, đồ vật có miệng, cây lựu, hồ đào, thùng rác, đồ đựng dụng cụ, các loại đồng hồ.

Nơi chốn, kiến trúc: Đầm lầy, đất trũng, giếng nước, rãnh

cạn, ao hồ, sân trượt băng, khu vui chơi, phòng họp, phòng hòa

nhạc, cửa hàng ẩm thực, tiệm cơm, cửa, giao lộ, trạm rác, đống gạch vụn, hổ giếng, nhà cũ, hang động, sào huyệt, hang núi, mộ huyệt, hố núi, miệng núi, phòng biểu diễn, công đoàn, phòng quan hệ công chúng, nhà hữu nghị.

Thời gian có lợi: Năm tháng ngày giờ Canh Tân Thân Dậu Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi. Kỵ năm tháng ngày giờ Bính Đinh Tị Ngọ, tiếp theo là kỵ năm tháng ngày giờ Nhâm Quý Hợi Tý.

Phương vị có lợi: Phương Tây, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam.

Kỵ phương Nam, tiếp theo là phương Bắc.

Màu sắc có lợi: Trắng, vàng. Kỵ màu đỏ.

TƯỢNG TRƯNG CỦA 64 QUẺ

64 quẻ do tám kinh quái tổ hợp thành, mỗi quẻ đều có quái

danh và tượng ý riêng biệt. Khi đoán quẻ, từ quái danh đôi khi có thể trực tiếp ngộ ra xu thế phát triển và kết quả của sự việc. 

Trong Tạp Quái Truyện đã trình bày ngắn gọn về quái danh của 64 quẻ, thực tế là biểu đạt nội hàm của mỗi quẻ. Dựa vào quái danh và quái tượng, chúng ta cũng có thể ngộ ra được tượng ý và sự vật tượng trưng của quẻ đó.

1 Khí quản tích đàm dẫn tới các triệu chứng như hô hấp không thông, tim đập nhanh, đổ mồ hôi v.v.

Tạp Quái Truyện:

 “Càn cương Khôn nhu. Tỷ lạc Sư ưu. Lâm Quan chỉ nghĩa, hoặc dữ hoặc cầu. Truân hiện như bất thất kỳ cư,

Mông tạp nhì trứ. Chấn, khởi dã; Cẩn, chỉ dã. Tổn Ích, thịnh suy chỉ thủy dã. Đại Súc, thời dã; Vô Vọng, tai dã. Tuy tụ nhi Thăng bất lại dã. 

Khiêm khinh, nhi Dự đãi dã. Phệ Hạp, thực dã; Bí, vô sắc dã.

Đoài hiện, nhì Tốn phục dã. Tùy, vô cổ dã; Cổ, tắc sức dã. Bác, lạn dã; Phục, phản dã. Tẩn, trú dã; Minh Di, tru dã. Tỉnh thông, nhi Khốn tương ngộ dã. Hàm, tốc dã; Hằng, cửu dã. Hoán, ly dã; Tiết, chỉ dã. Giải, hoãn dã; Kiển, nan dã. Khuê, ngoại dã; Gia Nhân, nội dã. Bỉ Thái, phản kỳ loại dã. Đại Tráng tắc chỉ, Độn tắc thoái dã. Đại Hữu, chúng dã; Đồng Nhân, thân dã. Cách, khứ cổ dã; Đỉnh, thủ tân dã. Tiểu Quá, quá dã; Trung Phu, tín dã. Phong, đa cố dã; thân quả, Lữ dã. Ly thượng, nhi Khảm hạ dã. Tiểu Súc, quả dã; Lý, bất xử dã.

Nhu, bất tiến dã; Tụng, bất thân dã. Đại Quá, điên dã; Cấu, ngộ đã, nhu ngộ cương dã. Tiệm, nữ quy đãi nam hành dã; Di, dưỡng chính dã. Ký Tế, định dã; Quy Muội, nữ chi chung dã. Vị Tế, nam chi cùng dã; Quải, quyết dã, cương quyết nhu dã, quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo ưu dã.”

Tạm dịch: Quẻ Càn cương kiện, quẻ Khôn âm nhu. Quả Tỷ

vui vẻ, quẻ Sư ưu sầu. Ý nghĩa của quẻ Lâm và quẻ Quan, hoặc là đưa cho, hoặc là thỉnh cầu. Quẻ Truân là vạn vật bắt đầu xuất hiện, tất cả đều không mất đi vị trí của nó, quẻ Mông là vạn vật hiển lộ ở nơi hỗn tạp. Quẻ Chấn là phấn khởi, quẻ Cấn là tĩnh. Quẻ Tổn và quẻ Ích là khởi đầu của thịnh đại và suy vi. Quẻ Đại Súc nói về thời cơ, quẻ Vô Vọng nói về tai họa. Quẻ Tụy là tụ tập, quẻ Thăng là không đến. Quả Khiêm là khiếm nhã, quẻ Dự là lười biếng. Phệ Hạp là ăn uống. Quả Bí là không có màu sắc. Quẻ Đoài là trông thấy, quẻ Tốn là khiêm nhường, là phục. Quẻ Tùy là vô duyên vô cớ, quẻ Cổ là chỉnh đốn trị lý. Quẻ Bác là thổi rữa, quẻ Phục là trở lại. Quẻ Tấn là ban ngày, quẻ Minh Di là chém giết.

Quẻ Tỉnh là nước thông với mặt đất, quẻ Khốn là hai bên gặp

nhau. Quẻ Hàm là nhanh chóng, quẻ Hằng là lâu dài. Quẻ Hoán là ly tán, quẻ Tiết là hạn chế. Quẻ Giải là hòa dịu, quẻ Kiển là khó khăn. Quẻ Khuê nói về bên ngoài, quẻ Gia Nhân nói về trong nhà.

Quẻ Bĩ và quẻ Thái trái ngược với nhau. Quẻ Đại Tráng là đình

chỉ, quẻ Độn là thoái lui. Quẻ Đại Hữu nói về được nhiều người

giúp đỡ, quẻ Đồng Nhân nói về thân cận với nhiều người. Quẻ

Cách là loại bỏ cái cũ, quẻ Đỉnh là đạt được cái mới. Quẻ Tiểu

Quá nói về lỗi nhỏ, quẻ Trung Phu nói về phải có chữ tín. Quẻ

Phong nói về làm việc không cần thiết, quẻ Lữ nói về ít người thân cận. Quẻ Ly là hỏa hướng lên, quẻ Khảm là thủy hướng xuống.

Quẻ Tiểu Súc là thiếu, quẻ Lý là không đình chỉ. Quẻ Nhu là không tiến lên, quẻ Tụng là không thân thiết. Quẻ Đại Quá là điên đảo, quẻ Cẩu là gặp, là âm nhu gặp dương cương. Quẻ Tiệm là nữ xuất giá phải đợi nhà trai đón mới đi, quẻ Di là bồi dưỡng chính khí. Quẻ Ký Tế là đã thành công, quẻ Quy Muội là kết cục của cô gái trẻ.

Quẻ Vị Tế là sự khốn cùng của người đàn ông, quẻ Quải là xung khai, là dương cương xung khai âm nhu, là đạo quân tử không ngừng lên cao, đạo tiểu nhân không ngừng xuống thấp.

8 kinh quái, 64 biệt quái, giống như vạn vật vạn tượng trên

đời, sự rắc rối về nội dung khiến cho người ta khó hiểu. Trên thực tế, trong học tập không nên học vẹt vật tượng, thể tượng cụ thể của mỗi quẻ, mà trước tiên phải hiểu thấu quái tượng, hào tượng và quái tính, sau đó quan sát hình dáng sự vật, so sánh quái tượng và lấy sự vật phân loại vào bát quái, đây gọi là vạn tượng sinh ở tâm, quẻ cũng sinh ở tâm. Người học phải dùng tâm để ngộ, chứ không phải dùng đầu để nghĩ hay để nhớ, trên đời có muôn vàn chuyện, trong suốt cuộc đời, một người thì có thể biết và nhớ được bao nhiêu? Nhưng nếu có thể tinh thông Dịch lý, hiểu thấu quái tượng, thì mọi chuyện thiên hạ đều biết! Đây chính là: “Học trò không ra khỏi cửa cũng có thể biết được chuyện thiên hạ”. Anh ta dựa vào cái gì để biết chuyện thiên hạ? Đó là bát quái.

Nội hàm của quẻ là do tượng của bản thân nó quyết định. Ví

dụ như quẻ Đỉnh –, quẻ hỗ của nó là Quải =, tượng một đồ

đựng bằng kim loại hình tròn (Càn là tròn) mở miệng ở trên, quẻ

Đỉnh hào 6 là dương, thì coi là nắp nồi, quẻ này thượng Ly hỏa hạ

Tốn mộc, mộc sinh hỏa đốt đồ đựng bằng kim loại này, mà phía

dưới có một hào âm, có hai chân chống đỡ, đồ đựng này xưa gọi là cái đỉnh, đỉnh phải là ba chân mới có thể đứng được, nhưng ở đây chỉ có hai chân, thiếu một, cho nên gọi là quẻ Đỉnh “chiết túc” (gãy chân). Một ví dụ khác như Đại Súc , Càn là vàng ngọc, là đồ vật quý giá, Cẩn là núi, là dừng, vàng ngọc phục tàng dưới núi, trong núi, hoặc là vàng ngọc được để trong kho, dừng lưu hành ở ngoài, không lộ ra ngoài, cho nên quẻ này là tượng tích góp tiền của.

Phong H, quẻ hỗ của nó chứa tượng đại Khảm, Khám chủ trí,

thông minh. Thượng quái Chấn là nghĩ, là chăm chỉ suy nghĩ, hạ quái là Ly, là ánh sáng, người thông minh chăm chỉ suy nghĩ và hành động, quang minh vô hạn, tất được thành quả to lớn, cho nên gọi là Phong. Căn cứ vào quái tượng, hào vị, quái tính và quái danh, chúng ta sẽ dễ dàng ngộ được các quẻ.

Cuốn sách này sẽ giới thiệu ngắn gọn về các tượng ý chủ yếu

thường dùng của 64 quẻ, không đi theo các khuôn mẫu giáo điều, mà là hướng dẫn mọi người phân tích quái tượng và hào tượng, để tư duy hình tượng, tư duy ngộ tính, “khiêu xuất tam giới ngoại, bất tại ngũ hành trung.” Học “dĩ đạo quan vật, quan vật thủ tượng”, mô phỏng thủ tượng, từ đó, khi gặp vật tượng gì thì sẽ biết được vật tượng này thuộc về quẻ nào, khi gặp một quái tượng thì có thể biết được quái tượng này mô phỏng vật tượng gì.

Dịch là biến dịch, mà việc nắm bắt Dịch đều ở một chữ “hoạt”,

“hoạt tắc thông, thông tắc cửu, cửu tắc đại”.

Tượng ý của 64 quẻ:

Càn 

Càn Vi Thiên. Quái tượng: Thượng Càn hạ Càn, quẻ

thuần dương.

Quẻ Càn, dương cương, cương kiện, tự cường bất tức”. Càn

sáu hào đều doanh mãn, cho nên đầy đủ, viên mãn, hanh thông,

thành công, trọng đại. Nhưng cứng quá dễ gãy, có tượng thiếu yên

ổn, thiếu vững chắc. Nhân vật biểu thị là cấp trên, lãnh đạo, cán bộ,

người chấp pháp, người có tiền và phú quý, tài xế.

Khôn

Khôn lễ Khôn Vi Địa. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Khôn,

quẻ thuần âm.

Quẻ Khôn, âm nhu, địa đạo hiền sinh”; hậu tải vạn vật, vận

hành không ngơi nghỉ và tiến bước không giới hạn, có tượng thông

thuận. Khôn sáu hào đều hư, có tượng vỡ nứt, âm ám, hãm hại, bất

1 Vượt ra khỏi tam giới, không còn ở trong ngũ hành,

? Không ngừng vươn lên, không ngừng cố gắng.

3 Đạo của đất là sinh vạn vật.

Đất dày và tải vạn vật. động, đoán xuất hành không đi, hành nhân không về. Nhân vật biểu thị tiểu nhân (do trời lớn đất nhỏ).

Truân

Thủy Lôi Truân. Quái tượng: Thượng Khảm hạ

Quẻ Truân, cây được trời mưa mà gội đầu, hoặc sấm và mưa

cùng đến, tượng đối mặt khó khăn và suy nghĩ thận trọng. Khảm là hiểm, Chấn là động, Truân tích, đầy, vật mới sinh, tụ đốn tỏa, lúc đầu tuy gian nan, nhưng không mất đi vị trí của nó và lập nên sự nghiệp. “Dĩ quý hạ tiện, động vu hiểm trung, ưu hoạn trung thâm mưu viễn lự.” Khảm là thể, thì tiết khí vô tài, thất thoát. Chấn là thể lại được sinh thì được tài thăng chức. Phòng bệnh gan, chứng suy huyết, thận hư v.v, lo về trưởng nam.

Mông

La Sơn Thủy Mông. Quái tượng: Thượng Cấn hạ

Quẻ Mông, dưới núi có nước, dưới núi có hiểm, hiểm mà

dừng, âm hãm mà bất định, phức tạp nhưng hiện rõ. Đồng mông”,

mông muội, khải mông (khai sáng), giáo dục, giáo hóa. Hôn, trầm”.

Tai nạn rơi xuống nước hoặc sỏi thận, hệ tiết niệu kết sỏi, mất thính

giác. Cẩn là thể, có thời vất vả; Khảm là thể, có tai họa, trung nam

bất lợi.

Nhu

Thủy Thiên Nhu. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Càn.

Quẻ Nhu, mây kéo đầy trời, hiểm nạn phía trước, cần đợi thời

mà tiến, nhu cầu, chờ đợi, mong đợi. Gánh vác hiểm nạn, có ham

muốn, có yêu cầu. Có thông minh tài trí. Khảm là thể, có niềm vui

về tiền tài, quan chức, lợi cho trung nam; Càn là thể, lại tiết khí,

thất thoát, là bệnh, giáng chức, mất chức.

Khảm,

Tụng

 Thiên Thủy Tụng. Quái tượng: Thượng Càn hạ

—-

1 Đình chỉ phát triển ở giai đoạn đầu.

Lấy quý đặt dưới hèn, hành động trong nguy hiểm, lo xa nghĩ rộng trong

gian nan khổ cực.

Trẻ thơ dại; trẻ nhỏ chưa biết gì.

4 Tối tăm, đầu óc lờ đờ, tinh thần mệt mỏi.

5 Chìm xuống, nặng nề.

Quẻ Tụng, trời mưa, trên cương dưới hiểm. Quan phi khẩu

thiệt, tranh luận, không thân thiết, chữ tín bị khuất lấp. Nội tâm

thông minh. Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ

Nhu.

Sư 

LỄ Địa Thủy Sư. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Khảm.

Quẻ Sư, dưới đất chứa nước, nước khoáng, nước ngầm, tiểu

nhân nội tâm nham hiểm xảo trá. Tụ tập quần chúng, ra quân ồ ạt,

thống lĩnh, thống soái, quân đội, bảo thủ ổn định, lo lắng. “Dung

dân súc chúng, trung quốc hoài thần!”. Khôn là thể, mưu sự có thể

thành, Khảm là thể có tai bệnh. Bệnh thận, hệ tiết niệu kết sỏi, tiêu

chảy, đại tiện nhão. Mẹ có bệnh, trung nam bất lợi, phụ nữ nằm

quyền, bị phụ nữ sỉ nhục.

Tỷ 

Thủy Địa Tỷ. Quái tượng: Thượng Khảm hại Khôn.

Quẻ Tỷ, trên đất có nước thẩm thấu, trợ giúp, thân thiện, tỉ

thí, vui vẻ. “Chí thành tương tri, tương dữ tương ứng.” Phụ nữ

thông minh. Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quả Sư.

Tiểu Súc — Phong Thiên Tiểu Súc. Quái tượng: Thượng Tn

hạ Càn.

Tiểu Súc

Quẻ Tiểu Súc, trên trời nổi gió, trời đầy gió mây, cường kiện

như gió thuận mà đi, tích ít thành nhiều, chờ đợi, “đức tích tải

pháp”, tế dưỡng”. Quẻ Tốn là thể, có tai họa, tổn thương do đồ vật

kim loại, cấp trên phê bình, bị áp chế. Quẻ Càn là thể, mưu sự có

thể thành, nhưng phải trả giá khá nhiều, bôn ba vất vả, dùng quyền

lực khuất phục người khác. Bệnh đảm kinh, phong hàn. Phụ nữ bất

lợi, đàn ông chuyên quyền, khắc phụ.

 Thiên Trạch Lý. Quái tượng: Thượng Càn hạ Đoài.

Quẻ Lý, hình tròn có khuyết tổn, trong cương có hiểm. Chấp

hành, hành động thận trọng, hành vi giẫm đạp, hành bất du lễ, bất

—-

* Dung nạp và nuôi dưỡng dân chúng, làm thần dân trung thành với đất

nước.

? Hiểu nhau chân thành, chung sống hòa hợp,

3 Cứu tế, nuôi dưỡng.

“ Hành vi không vượt quá lễ nghĩa,

xử phi lễ. Có quan tại thị phi tranh chấp, tai nạn giao thông, tổn

thương do đồ vật kim loại. Quẻ tỷ hòa, sự cát. Càn là cha, Đoài là

thiếu nữ, già trẻ kết hợp, hôn nhân bất lợi, có nỗi lo về phá tổn biến

cổ. Phòng bệnh phổi, đường hô hấp, kim vượng khắc mộc, có bệnh

gan mật, bệnh khoang miệng, bệnh đau đầu.

Thái 

— Địa Thiên Thái. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Cần.

Quẻ Thái, khí trời đất tương giao, tiểu vãng đại lai (nhỏ đi lớn

đến). An định, thái bình, hanh thông, thông thái, an đức, trì

doanh”, to lớn, sự cát. “Vô vãng bất phục, gian nan thủ chính, hàng

tồn tòng hiền”.” Khôn là thể thì tiết khí thất thoát, nghênh phụng

quyền quý. Càn là thể thì có hỷ phát tài thăng chức. Được phụ nữ

đã có chồng trợ giúp, nhiều người ủng hộ. Có bệnh vị hàn.

Thiên Địa Bỉ. Quái tượng: Thượng Càn hạ Khôn.

Quả Bĩ, trời trong ở trên, đất đục ở dưới, khí trời đất không

tương giao. Bế tắc không thông. Cách trở, việc không trôi chảy. “Đại

nhân bĩ hanh, nội tiểu nhân nhi ngoại quân tử.” Giải thích thể, dụng

và bệnh tật thân thể giống quẻ Thái. Ngoài ra còn phòng bệnh

xương cổ tăng sinh, xương cổ cứng đờ.

Đồng Nhân 

Thiên Hỏa Đồng Nhân. Quái tượng: Thượng

Còn hạ Ly.

Quẻ Đồng Nhân, mặt trời treo giữa trời, chiếu rọi thiên hạ vạn

vật, “khoáng đạt vô tư đi đồng nhân, đồng tâm chi ngôn…”, chí đồng

đạo hợp, thân cận với người, hữu hảo với người. Vật kim loại phát

nhiệt, đốt nóng, đồ điện bằng kim loại, nồi hơi. Càn là thể, có tại

họa. Ly là thế, mưu sự có thể thành. Có tranh cãi với con cái, phổi,

hệ hô hấp có bệnh, có chứng mạch máu xơ cứng, lão phụ và trưởng

nam bất lợi.

1 Giữ đúng lễ nghĩa ở mọi nơi.

2 Thoải mái, thông suốt, trôi chảy.

6

? Giữ lại thành tựu đã thành.

1 Đi ắt có về, gian nan tuân thủ chính đạo, noi theo người hiền đức.

3 Người đại đức vừa có bế tắc vừa có hanh thông, trong tiểu nhân mà

ngoài quân tử.

Khoảng đạt vô tư bởi vì lời nói đồng nhân, đồng tâm.

Cùng chung chí hướng.

Đại Hữu 

— Hỏa Thiên Đại Hữu. Quái tượng: Thượng Ly hạ

Quẻ Đại Hữu, mặt trời rực sáng, hào quang khắp trời, sở hữu

tài sản, sở hữu rất nhiều, thu hoạch được mùa. “Tự trợ nhân trợ,

vạn vật sở quy.” Giải thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống

quẻ Đồng Nhân. Ngoài ra còn phòng chứng xơ cứng, vỡ mạch máu

não.

Khiêm 

* Địa Sơn Khiêm. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Cấn.

Quẻ Khiêm, trong đất ẩn tàng khoáng thạch, của cải. Cung

kính hợp lễ, cúi mình dưới người, nhượng bộ nhưng không tự mãn,

khiêm tốn nhượng bộ, khinh mình trọng người, “lao khiêm quân tử

đích thịnh đức, nội sung thực.” Quẻ tỷ hòa, sự cát. Đoán hôn nhân,

lão mẫu kết hợp thiếu nam, có điềm hôn biển”, (quẻ hỗ lại chứa

Khảm hiểm) có bệnh ruột và dạ dày, tiện kết, thận hư.

Dự

Lôi Địa Dự. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Khôn.

Quẻ Dự, sấm dậy đất bằng, hoặc tiếng sấm mùa xuân, chấn

kinh trăm dặm, kinh thiên động địa, ảnh hưởng to lớn, tiếng tăm

vang dội. Hưởng thụ an lạc, vui vẻ an nhàn, sung sướng nhưng lười

biếng, phát lệnh hiệu triệu, cần biết ý nghĩa của tùy thời, vượt hằn

mọi người, thâm căn cổ đế. Chấn là thể, cầu tài có thể được, lợi cho

thu hoạch điền sản. Khôn là thể, hung. 40 tuổi tạo dựng sự nghiệp,

48 tuổi danh truyền bốn biển. Không cát là lại bài bạc, thích uống

rượu, ruộng vườn bỏ phế, quan tai thị phi, khó tránh gông cùm

xiềng xích. Có bệnh chân, bệnh ruột và dạ dày, tổn thương nội cân

(huyệt giao tín), thận hư, phụ nữ bất lợi.

Tùy

Trạch Lôi Tùy. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Chấn.

Quẻ Tùy, trên miệng nói dưới hành động, nói tất làm, ngôn

hành thống nhất, thét lên giận dữ, tranh cãi, tương tùy tương tòng,

đuổi theo vì cớ gì, theo số đông, tùy tùng. Sự vật trong thiên hạ đều

—-

; Tự giúp người giúp, vạn vật đều quy phục.

2 Phẩm đức cao thượng của người quân tử khó nhọc và nhún nhường, bên

trong phong phú.

* Sự biến động của quan hệ hôn nhân trong gia đình. Thường chỉ vợ chồng

ly dị hoặc có ngoại tình.

phải tùy thời mà động. Đoài là thể, sự việc có thể thuyết phục,

thuyết phục thành công. Chấn là thế, uổng phí lời nói và hành động,

trái lại có tai vạ, bị liên lụy. Khắc con trai trưởng, có tai họa đổ máu,

đồ kim loại sắc bén làm tổn thương, phá tướng, quan phi khẩu thiệt,

bệnh gan, chuột rút, lẩm bẩm một mình.

Cổ

Sơn Phong Cổ. Quái tượng: Thượng Cần hạ Tốn.

Quẻ Cổ, dưới núi có gió, gió bị núi cản trở không lưu thông,

tĩnh chỉ bất động, tượng hủ bại. Mê hoặc, phá gia chi tử, xâm thực,

phát sinh sự cổ, trị lý chỉnh đốn. Mặc cho gió lớn thổi mạnh, bản

thân ta sừng sững bất động và phòng thủ điềm tĩnh. Cần là thể thì

hung, Tốn là thể thì mưu sự có thể thành, trẻ nhỏ nhiều bệnh, tổn

hại tiểu khẩu (người chưa đến tuổi trưởng thành). Tỳ vị không khỏe,

mũi mẫn cảm, khứu giác nhạy bén, lưng nặng nề, chân có bệnh, có

nguy hiểm bị rắn, chó, bò cắn.

Lâm 

Địa Trạch Lâm. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Đoài,

tượng quẻ đại Chấn.

Quả Lâm, bên dưới có hang động, có suối phun ra. Sắp đến,

tự mình đến, hỷ đến, vui vẻ, tự mình tham dự, lấy trên vỗ về dưới,

lấy quý trị hèn. Tích nhiều đức tốt ở một đời. “Chỉ thành chỉ làm

đích nhân sinh, cương chính hòa thuận hóa dục bất tức’.” Khôn là

thể, thất thoát hao tổn. Đoài là thế, có phúc ngồi không hưởng lộc.

Lợi cho con gái nhỏ, là ngọc quý trên tay của mẹ, được yêu thương

chăm sóc. Đoán hôn nhân, lão mẫu kết hợp thiếu nữ, tất hôn biển.

Bệnh về bụng, phẫu thuật bụng, trên người có sẹo.

Quan 

Phong Địa Quan. Quái tượng: Thượng Tồn hạ Khôn,

tượng quê đại Cần.

Quẻ Quan, gió đi trên đất, gió lướt nhẹ qua mặt đất, quan

vọng”, theo đuổi, thưởng thức, quan sát, xem xét, nghe ngóng,

trừng phạt, khuyên răn. “Sát dân tỉnh, thiết giáo hóa.” Tốn là thể

thì mưu sự có thể thành, Khôn là thể thì có tai họa. Có thị phi, sức

khỏe kém, cữu đương chủ mẫu (tai họa cho mẹ), nữ đoạt quyền

nghỉ,

—-

1 Nhân sinh chỉ thành chỉ lâm, chính trực hòa thuận hóa dục không ngơi

* Đặt mình ở ngoài sự việc và lặng yên quan sát tình hình phát triển.

3

Quan sát tình cảnh của dân, đặt ra giáo hóa,

mẹ. Có bệnh ruột và dạ dày, tổn thương lá lách, bệnh đường hô

hấp, liệt chi dưới, chứng bán thân bất toại, phong thấp. Quan lại là

đại Cần đại chỉ, có ý nghĩa là tĩnh quan’ bất động.

Phệ Hạp 

Hỏa Lôi Phệ Hạp. Quái tượng: Thượng Ly hạ

Quẻ Phệ Hạp, hỏa được mộc sinh, sấm vang chớp giật. Nói về

ăn, vật nhai vỡ trong miệng, có lộc ăn, thức ăn. Phán quyết vụ án,

trừ bạo an dân. Người hay nóng nảy, dễ kích động. Trạm phát điện,

Ly là thể, tài quan vượng, Chấn là thể, thất thoát hao tổn. Sốt cao,

bệnh tim, đánh trống ngực, tim đập quá nhanh, bệnh mạch máu

não do hưng phấn, can hỏa vượng.

Bí 

Sơn Hỏa Bí. Quái tượng: Thượng Cần hạ Ly.

Quẻ Bí, dưới núi có lửa, vạn vật tỏa ra ánh sáng rực rỡ của nó,

trang trí, chỉnh lý, đẹp, thu thập, lễ nghi, nghênh hôn, cầu hôn.

Cúng tế, có sự việc phát sinh khiến người vui mừng, vui vẻ, con

cháu hưng vượng, ruộng vườn phú thịnh, có tiền của phi nghĩa. Núi

lửa. Cần là thể đại cát, Ly là thể tiết khí thất thoát hao tổn. Đoán số

tối đa là 3; lợi cho người trẻ tuổi. Huyết khối tim, tuần hoàn máu

không thông, nhồi máu cơ tim.

Bác

Sơn Địa Bác. Quái tượng: Thượng Cần hạ Khôn.

Quả Bác, núi cao tựa vào đất, cao tựa vào thấp, dương cứng

bác lạc (rơi rụng), đẽo gọt, gõ đập, nát rữa, ngã bị thương, người

già quy sơn nhập mộ, âm thịnh dương suy, đạo của tiểu nhân lớn

mạnh, tiểu nhân đắc thế, người nữ được quẻ này là nữ trung hào

kiệt, cân quắc anh hùng”, nữ năng nhân”, nữ cường nhân”. Giải

thích thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quả Khiêm. Ngoài ra còn

có tượng chi dưới bủn rủn vô lực. Ngã bị thương, có tượng quy sơn

nhập thổ.

Phục

Địa Lôi Phục. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Chấn.

—-

– Phân tích, quan sát một cách tĩnh lặng.

2

Người phụ nữ có khí phách.

3

4

Người phụ nữ có kỹ năng hoặc sở trường nào đó.

‘Người phụ nữ có tài năng xuất chúng, tháo vát giỏi giang.

Què Phục, quê động đất. Một dương phục khởi, dương cương

bắt đầu sinh, vạn vật hanh thông. “Dương cương phục hồi, quân tử

đạo sinh.” Phản hồi, hồi phục, phục hưng, hưng thịnh lúc đầu, đi đi

về về, lặp đi lặp lại, tự mình phấn đấu, kiên định tiến thủ. Giải thích

thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quả Dự. Ngoài ra còn có suy

nghĩ trầm tĩnh, có tính khí sầu muộn khá lớn, chứng thần kinh phân

liệt.

Vô Vọng

Thiên Lôi Vô Vọng. Quái tượng: Thượng Căn hạ

Quẻ Vô Vọng, sấm động dưới trời, sấm sét giữa trời quang,

bất ngờ, làm bừa ắt có tai họa bất ngờ, đắc ý vênh váo mà chuốc

lấy tai họa. Không kỳ vọng, không hư vọng. Ảo tưởng thiếu thực tế,

việc lớn động trời. Chân thực khách quan, “thành hóa chi sinh sinh

đại hữu, tân nhân đạo nhi hợp thiên đức, hoạt lực nhi kiện.” Càn là

thể, mưu sự thành công, lợi tài quan, Chẵn là thể, có tai họa, việc

khó thành, nhiều tranh chấp, cấp trên áp chế phê bình, nhiều tiểu

nhân. Khắc trưởng nam, tổn thương chân, đau đầu, não minh,

bệnh gan, phì đại gan, xơ gan.

Đại Súc

Sơn Thiên Đại Súc. Quái tượng: Thượng Cẩn hạ

Quả Đại Súc, lên núi cao thỏa sức nhìn chuyện thiên hạ.

Không có gì lớn bằng trời, không có gì dừng bằng núi, Càn là tiến,

Cần là dừng, không cho tiến lên, luôn luôn tồn trữ tích tụ, tích trữ

nhiều. Ngay thắng mạnh mẽ, cần cù không ngơi nghỉ, từ đó tích trữ

và giàu có, dư dật. Uấn súc, súc chỉ. Trong núi có tàng trữ kim loại

khoáng thạch, phía dưới có ẩn tàng vàng ngọc châu báu tiền tệ.

Tượng trong phần mộ có cương thi. Cần là thể, thất thoát hao tổn,

hiểu thuận cha chú, lấy lòng cấp trên. Càn là thể, được tiền của bất

ngờ, thăng chức, thành đại nghiệp. Tỳ hư vị hàn, tăng sinh xương, u

xương. Người trẻ tuổi cơ thể hư nhược.

Di 

Sơn Lôi Di. Quái tượng: Thượng Cần hạ Chấn, quẻ đại Ly.

—–

– Chứng trong đầu có cảm giác có tiếng kêu. Thường kèm thấy các chứng

ù tai, hoa mắt. Nguyên nhân phần nhiều do tủy hải hư suy hoặc do hỏa tải.

thấp đàm trở trệ gây ra.

Quẻ Di, hai hào dương ở ngoài, ngoài thực trong hư, ngoài

cương trong nhu, ngoài lớn mạnh trong rỗng tuếch. Đình chỉ hành

động, đình chỉ tư tưởng. Núi lửa tích tụ. Di dưỡng, tự dưỡng, tự

mình tìm thức ăn, đạo dưỡng sinh. Quân tử tình ngôn ngữ, dưỡng

chỉ dĩ chính (bồi dưỡng chính khí). “Trí linh quy, dưỡng trường sinh.”

Cẩn là thể, bị khắc có tai họa, việc khó thành, bất lợi cho người trẻ

tuổi. Chấn là thể, lao tâm khổ trí việc có thể chậm hoàn thành. Tổn

thương chân, bệnh tỳ vị, hoạt động thụ chế bất tiện, lưng trầm

thống’, sỏi mật, ngã bị thương từ chỗ cao, cân thương cốt chiết,

bệnh gan.

Đại Quá

Trạch Phong Đại Quá. Quái tượng: Thượng Đoài

hạ Tốn, quẻ đại Khảm. Quẻ Đại Quá, hai hào âm rỗng ở bên ngoài,

đoạn chiết (gãy), là tượng quấn quanh trụ cột. Quẻ là quái tượng

đại Khảm, Khảm là hiểm, là đại hiểm, dương cương quá nửa, đại

quá thì sự vật điên đảo, có tai hiểm lớn. Khoe khoang mà gây nên

khẩu thiệt quan phi. Khảm chủ trí, đại quá là tượng đại Khảm, chủ

đại trí đại tuệ, minh mẫn, xinh đẹp, bản lĩnh lớn. “Đại quá chi nhân,

tài năng độc lập tư thế, kiến lập phi thường đích đại sự công đại

đức học.” Khí quản vỡ, tượng cái tủ, tốc độ xe quá nhanh mà xảy

ra tai nạn. Đoài là thể, khoe khoang khẩu thiệt. Việc có thể đại

thành. Tốn là thể, có đại tai hủy chiết (hủy hoại, gãy). Khắc trưởng

nữ, bất lợi hôn nhân, hai nữ ở chung cãi nhau ầm ĩ. Bệnh hen

suyễn, đùi bị chiết thương (gãy), tật bệnh can kinh, trên dưới minh

ám phá tướng, bị thương vì công cụ kim loại sắc bén, thổ huyết chết

sớm, kiếp đào hoa.

Khảm 

Khảm Vi Thủy. Quái tượng: Trùng Khảm, quẻ bát thuần.

Quẻ Khảm, là hai Khảm tương trùng, dương hãm âm trung

(dương rơi vào trong âm), có ý nghĩa là hiểm hãm, trên hiểm thêm

hiểm, trùng trùng hiểm nạn, thiên hiểm, địa hiểm. Hiểm dương thất

đạo, uyên thâm bất trắc (sâu xa không đoán được), dòng nước uốn

lượn, đời người trải qua quanh co gập ghềnh. Tuyệt đỉnh thông

minh, “tâm thành hành hữu công” (tâm thành thật sẽ có công). Quẻ

——

Đau ngầm bên trong, nhìn bề ngoài không biết được.

Người đại quá, đời này tài năng độc lập, dựng nên đại sự công đại đức

học phi thường.

tỷ hòa, mưu sự trót lọt có thể thành, nhưng trong đó có trắc trở,

Bệnh thận, hệ tiết niệu, bệnh máu, bệnh nữ khoa, thị giác kém,

bệnh tim.

Ly 

Ly Vì Hỏa. Quái tượng: Trùng Ly, quẻ bát thuần.

Quẻ Ly, Ly minh lưỡng trùng, ánh sáng rực rỡ, hỏa tính viêm

thượng, đoàn kết nương tựa. Ly tán, ly khai, phân ly. Phàm quẻ bát

thuần là giúp đỡ nương tựa lẫn nhau, nhưng lại có tính chất đồng

tính tương xích. Tuy tỷ hòa, nhưng bên trong có xung đột, mưu sự

có thể thành, nhưng có trắc trở, bệnh mắt, bệnh tim, cao huyết áp,

chứng phế hư.

Hàm

Trạch Sơn Hàm. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Cấn.

Quẻ Hàm, Đoài khí ở trên, Cẩn khí ở dưới, hai khí cương nhu

tương hàm (hòa hợp với nhau), tương ứng, tấn tốc (cấp tốc). “Chỉ

thuyết bất hành, đạo thính đồ thuyết”.” Hồ nước trên núi, miệng núi

lửa, hang động núi, thùng múc nước treo trên giếng. Đoài là thể

tiền tài có thể được, Cẩn là thể đại phá hao, phá tổn. Khoang miệng

lở loét, chân què, vết thương do dao chém, ngã bị thương dẫn tới

minh ám phá tướng.

Hằng 

Lôi Phong Hằng. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Tốn.

Quẻ Hằng, lôi động phong tán, âm dương tỷ hòa, vĩnh hằng

trường cửu, bền lòng, hợp quần tăng sức mạnh. Thế sự vô thường,

vận khí thay đổi thất thường, lúc tốt lúc xấu, “ưu hoạn trung cầu

thành công chi đạo”.” Vú đau nhức, bệnh gan mật, chức năng tỳ vị

kém. Quẻ tỷ hòa, việc thuận có thể thành, cầu tài quan hôn nhân

đều cát, thường được người giúp đỡ.

Độn

Thiên Sơn Độn. Quái tượng: Thượng Càn hạ Cẩn.

Độn, trời cao ở trên, dưới trời có núi, núi dừng ở đất, viễn sơn

nhân tàng, độn sơn bất tiến, lui tránh ẩn nấp. Từ bỏ hành động, xa

lánh tiểu nhân. Vị trí cao, giàn tháp kim loại cao, tháp tiếp sóng

truyền hình, núi lớn, núi cao. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống

quẻ Đại Súc.

—–

1 Chỉ nói không làm, nghe hơi nồi chõ.

2 Tìm đường thành công trong gian nan khổ cực,

Đại Tráng

Lôi Thiên Đại Tráng. Quái tượng, Thượng Chân hạ Càn.

Quẻ Đại Tráng, sấm động trên trời, cường thịnh tráng đại,

“dương cương sung phái, tráng tại chính đại’.” Tráng thịnh thì dừng,

cương cực thì đến chỗ tổn thương, hung nguy, vô định. Thể, dụng

và bệnh tật thân thể giống quẻ Vô Vọng.

Tấn

Hỏa Địa Tấn. Quái tượng: Thượng Ly hạ Khôn.

Quẻ Tấn, mặt trời từ đường chân trời nhô lên, tiến tới tỏa

sáng, ly nhật tự chiếu, tấn thăng thượng tiến, ban ngày. “Quang

minh lỗi lạc, duyên đồng loại dĩ thăng tiến (tiến cử đồng loại để

thăng tiến), hậu lễ quảng tư, đại minh tiếp vật (giao thiệp trong

sáng), tự chiều minh đức (tự làm sáng tỏ minh đức).” Ly là thể thất

lạc phá hao, Khôn là thể thì có hỷ tiền tài vinh hiển. Hôn sự không

tốt, phòng biến cố. Thị giác kém, tim suy kiệt, bệnh máu, vị tà hỏa.

Minh Di

 Địa Hỏa Minh Di. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Ly.

Quẻ Minh Di, ánh sáng đi vào trong đất, tượng tối tăm. Tổn

thương, hắc ám, minh thương (ánh sáng bị thương tổn), chém giết, thời thể hôn ám. “Ưu hoạn chi nhân văn sinh mệnh, nội chi minh ngoại nhu thuận dĩ mông đại nạn.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể

giống quẻ Tấn. hạ Ly.

Gia Nhân

Phong Hỏa Gia Nhân. Quái tượng: Thượng Tốn

Quẻ Gia Nhân, phong tự hỏa xuất (phong sinh ra từ hỏa),

phong trợ hỏa thế, người một nhà, gia đình thân hữu, người cùng thế hệ, bạn bè, người nhà, đồng đạo, tập hợp vào trong. Phong đuổi chớp lóe. Phong tán hỏa dễ tắt. Vui mừng, văn minh, nhà vui vẻ giàu có. Tốn là thể tài không tụ. Ly là thể học nghiệp thành công, sốt cao, bệnh tim, bệnh về máu, viêm bộ phận đùi.

2

Dương cương dồi dào, mạnh ở ngay thẳng.

Nhân văn sinh mệnh hoạn nạn khốn khổ, bên trong sáng láng mà bên

ngoài nhu thuận để chịu đại nạn.

Khuê

Hỏa Trạch Khuê. Quái tượng: Thượng Ly hạ Đoài.

Quẻ Khuê, hỏa viêm ở trên, trạch trái lại ở dưới, hai nữ đồng

cư, chí hướng của họ bất đồng, khuê vi (xa cách), quái dị (chuyện quái dị). Nhìn, xem, quan sát, quan vọng, lưu ý. Vật kim loại phát sáng, bình đun nước, cái chén, tivi. 

  Ly là thể mưu sự có thể thành.

  Đoài là thể có tai họa đổ máu. 

Bỏng, bị thương vì công cụ sắc bén, viêm khoang miệng, viêm đường hô hấp, huyết áp thấp. Hỏa hoạn, ám phá tướng.

Kiển 

Thủy Sơn Kiền. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Cẩn.

Quẻ Kiển, cao sơn lưu thủy, Khảm ở trước, Cần chỉ ở sau,

hiểm nạn trước mặt, tai nạn. Giao thông bị cản trở, phi sơn việt hải

(băng ngàn vượt biển), viễn độ trùng dương (đường sá xa xôi).

“Càng gánh vác gian nan càng phát triển trí tuệ, thấy nguy hiểm

phía trước, thong dong điềm tĩnh, đợi thời hưng phát.” Thác nước.

  Khảm là thể, có tai họa. 

  Cấn là thể, lợi cầu tài. 

Bệnh thận, bệnh hệ tiết niệu, thận và hệ tiết niệu kết sỏi, bệnh về máu, bệnh chân, bệnh ngón tay, tại bế tắc.

Giải 

Lôi Thủy Giải. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Khảm.

Quẻ Giải, giao long đắc thủy (giao long gặp nước), trong

Khảm hiểm mà động tránh hiểm nạn, sấm mưa nhiều lần xuất hiện, âm dương hòa sướng, muôn vật tùng giải (thả lỏng) trạch nhuận (sáng bóng). Giải thoát, giải trừ tai nạn, giải tán, giải quyết, tan rã.

“Lôi vũ động, vạn vật sinh phát.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể

giống quẻ Truân.

Tổn

Sơn Trạch Tổn. Quái tượng: Thượng Cấn hạ Đoài.

Quẻ Tổn, dưới núi có đầm, núi cao đầm sâu, giảm độ sâu của

nó, tăng độ cao của nó, giảm tổn, phá tổn, tổn hại, tổn thất, giảm thiểu, khởi điểm suy yếu, tổn thương. Quân tử “tổn dĩ tu đức, tổn dĩ tu kỷ, tổn dĩ ích.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Hàm.

Ngoài ra còn có nội phá tướng, thương tật chân.

1 Tổn để tu đức, tổn để tu thân, tổn để có ích.

Ích 

Phong Lôi Ích. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Lôi.

Quẻ Ích, phong lôi đan xen, tổn trên ích dưới, tăng lợi ích lẫn

nhau, được lợi. Khởi điểm hưng thịnh, trinh khiết. “Khắc kỷ như ích thiên vạn nhân.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quả Hằng,

Quải 

Trạch Thiên Quải. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Càn,

Quả Quải, đầm ở trên trời, trời cao mây bay. Quyết đoán,

quyết khứ, đoạn tuyệt quan hệ, quả đoán, giải quyết, kết thúc, cắt đứt, tiêu trừ. “Quả quyết kỳ sở đương quyết, kiện nhi duyệt, quyết nhi hòa.” Trưởng bối, cấp trên vui vẻ, được sự giúp đỡ của trưởng bổi, lãnh đạo cấp trên, làm việc thì còn có chỗ khiếm khuyết, thường không hoàn toàn như ý người. Phần đầu có phá tướng. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Lý.

Cấu

Thiên Phong Cấu. Quái tượng: Thượng Càn hạ Tốn.

Quẻ Cấu, dưới trời nổi gió, âm dần dần trường thịnh, quân

vương phát bổ văn cáo, thi hành mệnh lệnh, cáo tri tứ phương. Nhu gặp cương thì tráng, tao ngộ câu thông (gặp gỡ trao đổi), mệnh lệnh. Một âm địch năm dương, nữ tráng chớ lấy. Chân có phá tướng. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tiểu Súc.

Tụy

Trạch Địa Tụy. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Khôn.

Quẻ Tụy, đầm ở trên mặt đất, trên mặt đất có vũng nước, hồ

nước, rãnh nước, miệng giếng. Hòa thuận mà vui vẻ tụ họp, tụ ở giữa, hội họp, hấp thu, hấp thụ, tập hợp nhiều cái đẹp và vui vẻ.

Phần đầu có phá tướng, chi dưới bủn rủn vô lực, tiểu nhân, mẹ kế, ngông cuồng. 

Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Lâm.

Thăng 

Địa Phong Thăng. Quái tượng: Thượng Khôn hạ Tốn

Quẻ Thăng, cây sinh ra từ trong đất, sinh trưởng mà cao lên.

Lên cao, không xuống, phá thổ mà xuất, thẻ tre. Trúng gió xuất

huyết não, chân có phá tướng. 

– Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Quan.

1 Kiềm chế mình mà có ích cho thiên vạn người,

Quả quyết điều phải quyết, mạnh bạo nhưng vẫn tươi vui, cương quyết nhưng vẫn giữ được hòa khí.

Khốn 

Trạch Thủy Khốn. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Khảm

Quẻ Khốn, Khảm ở dưới Đoài, hà trạch vô thủy (sông, đầm

không có nước). Khốn cùng, nguy cơ, gặp gian nan, tai nạn ốm đau cùng đến, tai nạn mang tính hủy diệt, bệnh chứng, việc không thuận, giữ mình đợi thời. Phần đầu có phá tướng, có thủy ách (chết đuổi), 2 tuổi, 6 tuổi, 20 tuổi, 26 tuổi, 62 tuổi có tai bệnh. 

Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tiết.

Tỉnh 

Thủy Phong Tình. Quái tượng: Thượng Khảm hạ

Quẻ Tỉnh, mộc nhập thủy xuất, tượng múc nước giếng lên,

thông đạt, trôi chảy, tư dưỡng (nuôi dưỡng), vững chắc. “Lao khổ, ổn thận, xử ưu hoạn; thường cổ bất thiên’.” Thực vật trong nước, rong biển, cỏ biển. Khảm là thất thoát phá hao, Tốn là thể có hỷ tiến ích, mưu sự cát. Có thủy ách, phong thấp đau nhức, bệnh túi mật, chứng thận hư.

Cách 

Trạch Hỏa Cách. Quái tượng: Thượng Đoài hạ Ly.

  Quẻ Cách, Đoài là đầm là nước là nồi mở nắp, Ly hỏa nấu

thủy, thủy hỏa tương tức (biến đổi bản tính lẫn nhau), biến hóa

canh tân, biến cách trần cựu (thay đổi những thứ cũ kỹ), có bàn về chuyện tù ngục. Cách tân, không bảo thủ, cách mạng, đổ máu, bị thương. Phần đầu có phá tướng. 

  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Khuê.

Đinh 

Hỏa Phong Đỉnh. Quái tượng: Thượng Ly hạ Tốn.

Quẻ Đỉnh, mộc trợ hỏa vượng, nấu nướng thức ăn. Trên dưới

không thông suốt, thuận lợi vừa phải, canh tân liên tục, lập tân (đổi mới), đỉnh lập (thế chân vạc), vấn đỉnh đoạt quan. Gãy chân, phá chân. “Ngưng trùng an định dĩ tân mệnh, khứ phù hoa dĩ dụng thực tài, hỏa mộc tương sinh, mộc hoa đắc đương!” 

  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Gia Nhân.

——

1 Cực khổ, thận trọng vững vàng, ở trong gian nan khổ cực, luôn luôn kiên định không dời.

Chấn

Chấn Vi Lôi. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Chấn, quẻ bát thuần.

Quẻ Chấn, trùng lôi giao điệp, tương dữ vãng lai (cùng nhau

đi lại), chấn động mà khởi xuất. Chấn động, kinh sợ là hét, hai ba suy nghĩ, hiếu động. Tạo dựng sự nghiệp, thanh danh đại chấn.

Rừng rậm, rừng cây. Quẻ bát thuần, cát thuận nhưng có trắc trở, can vượng dễ tức giận, bệnh gan, chuột rút, tỳ vị tổn thương.

Cấn

Cấn Vi Sơn. Quái tượng: Thượng Cấn hạ Cấn, quẻ bát

Quẻ Cẩn, ngoài núi có núi, núi liền nhau. 

Bất động, tĩnh chỉ, đình chỉ, khắc chế, trầm ổn, ổn định, chỉ kỳ sở dục (ngăn dục vọng lại), gánh nặng. Hai bàn, hai giường liền nhau, giường tầng, trên giường, dưới bàn. Đoán đi xa, không thể xuất hành, người đi không về. Ung thư, mụn trứng cá, lên sởi, khối u, mụn nước, bệnh tỳ vị, thận, chứng kết sỏi.

Tiệm 

Phong Sơn Tiệm. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Cẩn.

Quẻ Tiệm, cỏ cây mọc từ từ ở trên núi, cỏ cây tích lũy mà

thành đồi, đồng cỏ. Tiệm tiến, có thứ tự, dần dần, từng bước tiến tới. Núi muốn tĩnh, gió chẳng ngừng. “Nội chi tĩnh, ngoại Tổn thuận, hoạt động bất cùng.” Tốc độ xe quá nhanh, gió đi ở đỉnh núi, có nguy hiểm tai nạn xe cộ, vui đùa chạy mà ngã bị thương. 

  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Cổ.

Quy Muội 

Lôi Trạch Quy Muội. Quái tượng: Thượng Chẩn hạ Đoài.

Quẻ Quy Muội, trên đầm có sấm, tiến tất hữu sở quy (tiến tất

có chốn quay về), cô gái về nhà chồng, về nhà, trở về. “Thuyết dĩ tài, hỏa mộc tương sinh, mộc hoa đắc đương!” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Gia Nhân.

—-

1

Trang trọng an định theo vận mệnh mới, bỏ hào nhoáng để dùng thực tài, hòa mộc tương sinh, mộc hỏa thỏa đáng.

Chấn

Chấn Vi Lôi. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Chấn, quẻ bát thuần.

Quẻ Chấn, trùng lôi giao điệp, tương dữ vãng lai (cùng nhau

đi lại), chấn động mà khởi xuất. Chấn động, kinh sợ la hét, hai ba suy nghĩ, hiếu động. Tạo dựng sự nghiệp, thanh danh đại chấn.

Rừng rậm, rừng cây. Quẻ bát thuần, cát thuận nhưng có trắc trở, can vượng dễ tức giận, bệnh gan, chuột rút, tỳ vị tổn thương.

Cấn

Cấn Vi Sơn. Quái tượng: Thượng Cấn hạ Cấn, quẻ bát thuần

Quẻ Cấn, ngoài núi có núi, núi liền nhau. Bất động, tĩnh chỉ,

đình chỉ, khắc chế, trầm ổn, ổn định, chỉ kỳ sở dục (ngăn dục vọng lại), gánh nặng. Hai bàn, hai giường liền nhau, giường tầng, trên giường, dưới bàn. Đoán đi xa, không thể xuất hành, người đi không về. Ung thư, mụn trứng cá, lên sởi, khối u, mụn nước, bệnh tỳ vị, thận, chứng kết sỏi.

—-

1 Trang trọng an định theo vận mệnh mới, bỏ hào nhoáng để dùng thực tài, hỏa mộc tương sinh, mộc hỏa thỏa đáng.

Tiệm

Phong Sơn Tiệm. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Cẩn.

Quẻ Tiệm, cỏ cây mọc từ từ ở trên núi, cỏ cây tích lũy mà

thành đồi, đồng cỏ. Tiệm tiến, có thứ tự, dần dần, từng bước tiến tới. Núi muốn tĩnh, gió chẳng ngừng. “Nội chỉ tĩnh, ngoại Tốn thuận, hoạt động bất cùng.” Tốc độ xe quá nhanh, gió đi ở đỉnh núi, có nguy hiểm tai nạn xe cộ, vui đùa chạy mà ngã bị thương. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Cổ.

Quy Muội

Lôi Trạch Quy Muội. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Đoài.

Quẻ Quy Muội, trên đầm có sấm, tiến tất hữu sở quy (tiến tất

có chốn quay về), cô gái về nhà chồng, về nhà, trở về. “Thuyết dĩ động hôn nhân, thiên chi đại nghĩa, nhân chi thủy chung, duyệt đi động!.” 

Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tùy.

Phong

Lôi Hỏa Phong. Quái tượng: Thượng Chấn hạ Ly.

Quẻ Phong, sấm chớp nhiều lần xuất hiện, quang minh và

động, thu được quả lớn, hoan lạc thịnh đại. Phong phú phong thịnh đến cực điểm thì nhiều sự cổ, xung động, nóng nảy, kích động dẫn đến bệnh tim. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Phệ Hạp.

Lữ

Hỏa Sơn Lữ, Quái tượng: Thượng Ly hạ Cẩn.

Quẻ Lữ, trên núi có lửa. Lữ hành, trọ ở ngoài, ra ngoài. Ít

người thân và bạn bè. Tượng không an định. Hỏa hoạn, núi lửa, bó đuốc, yên hỏa đài (đài đốt lửa báo động). “Cư bất an, nhi đạo bất phế, hỏa lệ cao nhi minh như thận?” Tim ngừng đập, mắt đờ đẫn, một cặp tử tướng (tướng người chết). 

  Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Bí

Tốn

Tôn Vi Phong. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Tốn, quẻ bát thuần.

Quẻ Tốn, “nhu nhi hựu nhu, tiền phong vãng nhi hậu phong

phục hưng, tương tùy bất tức, nhu hòa như xuân phong, tùy phong nhi thuận.” Tốn thuận, thuận theo, tiến nhập mà hạ phục. Trùng

Tốn hạ lệnh, khí công, hai giường hai bàn tương liên, làm sinh ý có thể được lợi ba lần, ít tóc, cỏ cây chúng sinh. Sôi nổi, ngồi không yên, tĩnh chẳng được, đoán việc tỷ hòa cát. Bệnh gan mật, đau thần kinh tọa, đùi đau nhức, phong thấp trúng gió, tỳ vị không tốt.

1 Bàn về hôn nhân, nghĩa lớn của trời, khởi đầu và kết cục của người, vui

2 ở không yên, nhưng đạo không bỏ, lửa dựa vào cao và sáng mà dè

chứng.

3- Nhu rồi lại nhu, gió trước đi rồi gió sau lại nổi, theo nhau không ngừng, êm dịu như gió xuân, theo gió mà thuận.

Đoài

Đoài Vi Trạch, Quái tượng: Thượng Đoài hạ Đoài, quẻ bát thuần.

Quẻ Đoài, vui vẻ thấy rõ, vui vẻ rọi đến người, thao thao bất

tuyệt, giỏi lời lẽ, cao hứng, đất đầm lầy, hang động, phế huyệt,

hỏng tưởng phá nhà, hố trũng, rãnh nước ngang dọc. Đoán việc như ý vui lòng. Bệnh miệng, bệnh khí quản, bệnh phổi, mặt rỗ, bệnh gan mật, đùi đau nhức, tai họa đổ máu, làm phẫu thuật.

Hoán

Phong Thủy Hoán. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Quẻ Hoán, gỗ nổi ở trên nước, mặt nước nổi gió, thuyền đi ở trên nước. Rời rạc, ly tán, “tế hiểm hữu cự” (có dụng cụ cứu tế nguy hiểm). 

Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Tỉnh.

Tiết

Thủy Trạch Tiết. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Đoài.

Quẻ Tiết, sông đầm đầy nước, nhưng cần tiết kiệm nước

dùng, chấm dứt xa xỉ, tiết kiệm. Nước tràn, đồ đựng nước, miệng vết thương chảy máu mủ, bệnh tật khoang miệng (miệng, răng, lưỡi, yết hầu v.v), họ, đàm suyễn, miệng niệu đạo, tật bệnh hậu môn, huyết áp thấp, ngoại thương, bệnh khí quản, khí hư, tổn thương phần đầu. 

Khảm là thể, việc có thể thành.  

Đoài là thể, có tai họa hoặc bệnh, phá hoại lại việc khó thành.

Trung Phu

Phong Trạch Trung Phu. Quái tượng: Thượng Tốn hạ Đoài.

Quẻ Trung Phu, là quái tượng đại Ly, chữ tín, thành tín tương

cảm, tín thủ trung đạo, ngực có sẵn cây tre (trong lòng đã có dự

tính). Vô định hướng, tâm bất định. Có bàn về chuyện tù ngục.

Ngoại cương nội nhu, ngoại thực nội hư. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Đại Quá.

Tiểu Quá 

Lôi Sơn Tiểu Quá. Quái tượng: Thượng Chân hạ Quẻ Tiểu Quá, là quái tượng đại Khảm, núi cao sấm vang, núi lớn sấm nhỏ, tiểu hữu sở quá, ẩn phục nguy hiểm, nhưng tâm tĩnh

chế động, “tiểu quá thường dĩ thành đại nghiệp.” Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Di.

Ký Tế

Thủy Hỏa Ký Tế. Quái tượng: Thượng Khảm hạ Ly.

– Ý nghĩa là làm việc nhỏ, phát triển phạm vi nhỏ thì có thể, còn muốn làm sự nghiệp lớn hoặc thành đại sự, thì sợ rằng không thể như ý.

Quẻ Kỷ Tế, Khảm thủy ở trên, Ly hỏa ở dưới, thủy hỏa tương

giao, hai khí tương cảm, đại công cáo thành. Hai sự vật mâu thuẫn tương phụ tương tế (trợ giúp lẫn nhau), thúc đẩy sự nghiệp hoàn thành. Nhưng Ký Tế chi cực, hiểm thể ở trên, cần phải nhớ phòng bị trước hoạn nạn. Khảm là thể, việc có thể thành, Ly là thể có tai họa, hôn nhân chính phối, ý hợp tâm đầu. Có tai nạn hỏa và thủy, thị giác kém, bệnh thấp tim, bệnh về máu, bệnh thận.

Vị Tế 

Hỏa Thủy Vị Tế. Quái tượng: Thượng Ly hạ Khảm.

Quẻ Vị Tế, hỏa ở trên thủy, hai khí không tương giao, việc

chưa thành công, việc bất lợi, không có kết cuộc, vĩnh viễn không kết thúc. Nam nhân khốn cùng. Thể, dụng và bệnh tật thân thể giống quẻ Ký Tế.

Tượng ý của 64 quẻ trên đây không cần ép buộc ghi nhớ, chỉ

cần nhớ thủ tượng cơ bản của bát quái, sau khi đã quen thuộc với tượng loại vạn vật bát quái, thì tự nhiên hiểu biết, trong vận dụng để lãnh ngộ, tự nhiên hiểu rõ, từ đó giảm thiểu tối đa khối lượng ghi nhớ và thời gian học tập.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *